MỪNG XUÂN DI LẶC
NĂM BÍNH NGỌ 2026 (PL 2571)
MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG VÔ CHƯỚNG NGẠI.
VẠN SỰ NHƯ Ý VÔ SỞ CẦU.
May success come without any obstacles.
May all your wishes come true, and you have no further desires.
MỘNG
XUÂN TIÊU
Xuân tiêu mộng
Mộng Xuân tiêu!
Xuân tiêu mơ mộng tối mai chiều!
Ngày trước tuổi thơ dong ngựa trúc
Hôm nay mái tóc điểm sương tiêu.
Từ đây tỉnh
Chớ mê nhiều!
Một kiếp thăng trầm chỉ bấy nhiêu!
MỒNG MỘT TẾT, KHAI KINH Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật
Chúc ĐẠI CHÚNG :
1. BỒ ĐỀ TÂM kiên cố,
2. Mau thành NHỨT THIẾT CHỦNG TRÍ.
MỤC LỤC
42 THỦ NHÃN ẤN PHÁP
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 1
Ma Ra Ma Ra [25]
Án-- phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 2
2. Quyến-Sách Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ma Ra Na Ra [62]
Ta-bà ha [63]
Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 3
Hô Lô Hô Lô Hê Lỵ [42]
Án-- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt-ra, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 4
Địa Rị Sắt Ni Na [50]
Án-- đế thế đế nhá, đổ vỉ nảnh,
đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 5
5. Bạt-Chiết-La Thủ Nhãn Ấn Pháp
Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ [68]
Ta-bà ha [69]
Án-- nể bệ nể bệ, nể bà dã, ma ha thất rị duệ, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 6
6. Kim-Cang-Xử Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ta Ra Ta Ra [43]
Án-- phạ nhựt-ra chỉ-nảnh,
bát-ra nể bát đa dã, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 7
Na Ra Cẩn Trì Bàn Đà Ra Dạ [72]
Ta-bà ha [73]
Án-- phạ nhựt-ra nẳng dã, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 8.
8. Nhật-Tinh-Ma-Ni Thủ Nhãn Ấn Pháp
Thất Phật Ra Da [32]
Án-- độ tỉ, ca giả độ tỉ,
bát ra phạ rị nảnh, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 9
9. Nguyệt-Tinh Ma-Ni Thủ Nhãn Ấn Pháp
Độ Lô Độ Lô [28]
Án-- tô tất địa yết-rị, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 10
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 11
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 12. Dương-Chi Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 13. Bạch-Phất Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 14. Hồ-Bình Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 15. Bàng-Bài Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 16. Phủ-Việt Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 17. Ngọc-Hoàn Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 18. Bạch-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 19. Thanh-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 20. Bảo-Cảnh Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 21. Tử-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 22. Bảo-Kiếp Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 23. Ngũ-Sắc-Vân Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 24. Quân-Trì Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 25. Hồng-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 26. Bảo-Kích Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 27. Bảo-Loa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 28. Độc-Lâu-Trượng Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 29. Sổ-Châu Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 30. Bảo-Đạc Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 31. Bảo-Ấn Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 32. Cu-Thi-Thiết-Câu Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 33. Tích-Trượng Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 34. Hiệp-Chưởng Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 35. Chưởng-Thượng Hóa-Phật Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 36. Hóa-Cung-Điện Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 37. Bảo-Kinh Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 38. Bất-Thối-Kim-Luân Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 39. Đảnh-Thượng Hóa-Phật Thủ Nhãn ấn pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 40. Bồ-Đào Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 41. Cam-Lộ Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ngày Thứ 5 Tuần Thứ 42. Tổng-Nhiếp-Thiên-Tý Thủ Nhãn Ấn Pháp
ĐẠI BI THỦ NHÃN ẤN-PHÁP
1. - PHẦN LỄ BÁI SÁM HỐI
( Trước tiên rửa tay, rửa mặt, lễ phục nghiêm-chỉnh. Khi đến nơi lễ tụng, Hành-giả dùng ẤN KIẾT TƯỜNG, tay trái ngón cái nắm co đầu ngón vô danh, vẽ và tưởng chữ LAM.
sắc trắng trong lòng tay mặt 3 lần. Rồi tay mặt cũng kiết ấn vẽ vào lòng tay trái y như vậy. Kế tiếp đốt hương rồi bước lui đứng chấp tay trước bàn Phật, đọc bài kệ tán)
Pháp vương vô-thượng tôn
Tam-giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Ðạo-sư
Tứ-sanh chi từ-phụ
Ư nhứt niệm quy-y
Năng diệt tam-kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán-thán
Ức kiếp mạc năng tận.
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo-tràng như Ðế-châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ.
(Hành giả có thể đọc bài kệ tán khác mà mình thích)
PHỔ LỄ CHƠN NGÔN
UM! VA JI(ri) RA MẬT
(7 lần)
(AUM ! VÀJRA MÙD.)
( Trong khi tụng chú, kiết ẤN KIM CANG HIỆP CHƯỞNG để trên đầu, chấp hai tay lại ngón so le, hữu áp tả. Theo Mật-giáo, nên tưởng mình hiện thân khắp pháp-hội 10 phương, lễ kính chư PHẬT. Xong xả ấn ngay nơi đảnh.)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trụ Tam-Bảo. (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Ðương-lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Ðại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Ðại hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới Ðại-từ Ðại-bi A-Di Ðà Phật, Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát, Ðại-Thế-Chí Bồ-tát, Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát, Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát. (1 lạy)
(Kế tiếp, quỳ trước bàn Phật, chấp tay, chí-thành, đọc bài kệ Sám-hối)
Đệ tử (pháp danh...) một lòng sám hối
Về trước con tạo nhiều nghiệp ác
Đều do vô thỉ tham, giận, mê
Từ thân, miệng, ý mà sanh ra
Nay con xin sám hối tất cả
Con nguyện thân tâm thường tinh tấn
Chướng duyên trong ngoài đều tiêu trừ
Lâm chung chánh niệm về tây phương
Mãn nguyện Bồ đề độ hàm thức.
Nam mô cầu sám hối Bồ tát Ma ha tát (3 lần)
2.- PHẦN TRÌ CHÚ NIỆM PHẬT
( Ngồi kiết già hoặc bán già trước bàn Phật. Tịnh tâm trong giây phút, rồi Tưởng chữ "LAM" sắc Trắng trên đầu, phóng ánh sáng Đỏ.)
( Kế dùng ấn Kiết tường Viết và Tưởng chữ "LAM" cùng chữ "HÙM" cũng đều sắc Trắng, gia trì Hai lòng bàn tay và Chuỗi, mỗi nơi ba lần.
Lại tiếp dùng ấn Kiết tường, gia trì SỔ CHÂU chân ngôn sau đây nơi tràng Chuỗi, xong búng Ba cái, xả ấn trên Đảnh.)
GIA TRÌ SỔ CHÂU CHÂN NGÔN
UM! VAI RÔ CA NA MA RA XÓA HA
(7 lần)
(AUM ! VAIROCANA MARA SVĀHĀ)
( Xả ấn xong, vẫn ngồi chắp tay tụng bài Hương tán)
Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng dường nhứt-thế Phật,
Tôn pháp chư Bồ tát,
Vô-biên Thanh văn chúng,
Cập nhứt thế Thánh-Hiền,
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác Phật-sự,
Phổ huân chư chúng-sanh,
Giai phát Bồ-Ðề tâm,
Viễn-ly chư vọng-nghiệp,
Viên-thành vô-thượng đạo.
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)
(Vẫn chắp tay tụng tiếp bài tán Vô Lượng Thọ)
Quang, thọ khó suy lường,
Sáng lặng khắp mười phương.
Thế Tôn Vô Lượng Quang,
Cha lành cõi Liên ban.
Thần lực chẳng tư nghì,
Sống lâu A tăng kỳ.
A-Di-Đà Như Lai,
Tiếp dẫn lên liên đài.
Cực Lạc cõi thuần tịnh,
Công đức lạ trang nghiêm.
Nơi tất cả quần sanh,
Vượt lên ngôi Bất thối.
Mười phương hằng sa Phật.
Đều ngợi khen Vô Lượng.
Cho nên hôm nay con,
Nguyện sanh về An Dưỡng.
NAM MÔ LIÊN TRÌ HẢI HỘI PHẬT BỒ TÁT (3 lần)
(Tiếp tụng)
PHỔ THANH TỊNH CHÂN NGÔN
UM! SOA PHẠ VA SUÝT ĐA, SẠT VA ĐẠT MA,
SOA PHẠ VA SUÝT ĐA HÀM.
UM! LAM LAM LAM.
(7 lần)
( AUM! SVABHÀVA SUDDHA, SARVA DHARMA,
SVABHÀVA SUDDHA HAṂ
AUM ! RAM RAM RAM )
(Khi tụng chú này, kiết Chuẩn Đề biệt ấn. Cả hai tay, ngón cái nắm co ba ngón: trỏ, vô danh và út. Kế hiệp hai lại, hai ngón giữa dụm đầu nhau dựng đứng. Tụng xong xả ấn nơi đảnh.
Đây là phối hợp chú Tịnh tam nghiệp và Tịnh pháp giới. Chân ngôn này có công năng khiến cho bên trong: thân, khẩu, ý, y phục, bên ngoài từ chỗ ở của mình đến hoàn cảnh rộng xa đều thanh tịnh. Do chú này, tội chướng đều được tiêu trừ, có thể thành tựu các việc thù thắng.)
HỘ THÂN CHƠN NGÔN
UM ! VA JI(ri) RA, A NGHĨ NI,
BÁ RA NĂM BÌ ĐÁ DA, XÓA HA.
UM ! XỈ-LÂM XỈ-LÂM XỈ-LÂM.
(7 lần)
( AUM! VAJRA AGNI
PRA NÀMBIDHÁYA SVAHA.
AUM! SRAM SRAM SRAM)
Khi tụng chú này, kiết ấn Bị giáp hộ thân, Hành giả xoa hai tay vào trong, hữu áp tả, hai ngón giữa dựng đầu dính vào nhau, hai ngón cái áp vào ngón vô danh. Hai ngón trỏ cong lại như lưỡi câu, những không đụng vào lưng hai ngón giữa.
Đây là phối hợp chú hộ thân trong nghi Thập bát đạo và Mạn Thù Nhất Tự chân ngôn "XỈ LÂM", khi kiết tụng ấn chú này, thân của đương nhơn liền được mặc giáp trụ. Tất cả loài ma làm chướng ngại, bỗng thấy hành giả oai đức tự tại, ánh sáng bao phủ chói ngời, liền tan rã bỏ chạy. Sức chân ngôn nầy có thể bảo về được bản thân và tất cả mọi người quanh. Các ách nạn như: nước, lửa, cọp, sói, sư tử, dao gậy, gông xiềng thảy điều tiêu diệt. Khi tụng chú này xong 7 biến liền xả ấn nơi đảnh.
Kế hai tay đều kiết ấn Kim cang quyền, ngón cái bấm vào gốc ngón vô danh, nắm chặt lại.
Rồi đem ấn in vào các nơi:
1. trán,
2. yết hầu,
3. hai vai,
4. ngực,
5. rún,
6. hai bắp đùi,
7. sau thận môn,
8. xương gu cổ
9. và đảnh rồi xả ấn.
Trong khi ấy miệng tụng chữ Hùm
liên tiếp, cho đến khi xả ấn rồi mới thôi. Đây là pháp thức trấn tà ma không cho xâm nhập vào thân.)
Nam-mô Đại-Bi hội thượng Phật Bồ-tát. (3 lần)
Kính lạy Quán-Âm chủ Đại-bi,
Sức nguyện rộng sâu, thân tướng đẹp,
Ngàn mắt quang-minh khắp chiếu soi,
Ngàn tay trang-nghiêm khắp nâng đỡ.
Nơi tâm vô-vi khởi lòng bi,
Trong thể chân-thật tuyên lời mật.
Mau cho đầy-đủ những mong cầu,
Hay khiến dứt trừ nhiều tội nghiệp.
Thiên long các thánh đều từ-hộ,
Trăm ngàn tam-muội đã huân-tu.
Thân thọ-trì là quang-minh-tràng,
Tâm thọ-trì là thần-thông-tạng.
Rửa sạch trần-lao khơi bể nguyện.
Mở môn phương-tiện đến bồ-đề.
Nay con khen ngợi thệ qui-y,
Nguyện chỗ mong cầu được thành tựu.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả pháp.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt trí huệ
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền bát nhã
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm.
Nguyện con sớm được qua biển khổ
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được đạo giới định.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết Bàn
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi,
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng tâm pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ,
Nếu con hướng về lửa nước sôi
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi Địa ngục
Địa ngục liền mau tự tiêu tan
Nếu con hướng về loài ngạ quỷ
Ngạ quỉ liền được tự no đủ
Nếu con hướng về chúng Tu La
Tu La tâm ác tự điều phục
Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh tự được trí huệ lớn.
Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma ha tát
(3 lần)
Ðại-Bi-Tâm Ðà-Ra-Ni
Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.1
Nam-mô a rị da2, bà lô yết đế thước bác ra da3, Bồ-đề tát đỏa bà da4, ma ha tát đỏa bà da5, ma ha ca lô ni ca da6, Án!7, tát bàn ra phạt duệ8, số đát na đát tỏa9.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da10, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà11.
Nam-mô na ra cẩn trì12, hê rị ma ha bàn đa sa mế13, tát bà a tha đậu thâu bằng14, a thệ dựng15, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà già16, ma phạt đạt đậu17, đát điệt tha.18
Án, a bà lô hê19, lô ca đế20, ca ra đế21, di hê rị22, ma ha bồ-đề tát đỏa23, tát bà tát bà24, ma ra ma ra25, ma hê ma hê, rị đà dựng26, cu lô cu lô kiết mông27, độ lô độ lô, phạt xà da đế28, ma ha phạt xà da đế29, đà ra đà ra30, địa rị ni31, thất Phật ra da32, dá ra dá ra33.
Mạ mạ phạt ma ra34, mục đế lệ35, y hê di hê36, thất na thất na37, a ra sâm Phật ra xá-lợi38, phạt sa phạt sâm39, Phật ra xá da40, hô lô hô lô ma ra41, hô lô hô lô hê lỵ42, ta ra ta ra43, tất rị tất rị44, tô rô tô rô45, bồ-đề dạ bồ-đề dạ46, bồ-đà dạ bồ-đà dạ47, di đế rị dạ48, na ra cẩn trì49, địa rị sắc ni na50, ba dạ ma na51, ta bà ha52.
Tất đà dạ53, ta bà ha54. Ma ha tất đà dạ55, ta bà ha56. Tất đà du nghệ57, thất bàn ra dạ58, ta bà ha59. Na ra cẩn trì60, ta bà ha61. Ma ra na ra62, ta bà ha63. Tất ra tăng a mục khê da64, ta bà ha65. Ta bà ma ha, a tất đà dạ66, ta bà ha67.
Giả kiết ra a tất đà dạ68, ta bà ha69. Bà đà ma yết tất đà dạ70, ta bà ha71. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ72, ta bà ha73. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ74, ta bà ha75.
Nam-mô hắt ra đát na, đa ra dạ da76.
Nam-mô a rị da77, bà lô yết đế78, thước bàng ra dạ79, ta bà ha80.
Án! Tất điện đô81, mạng đa ra82, bạt đà dạ83, ta-bà ha84.
( Tụng mỗi ngày ít nhất là 5 lần
Ðại-Bi-Tâm Ðà-Ra-Ni trở lên )
Ma Bà Lỵ Thắng Yết Ra Dạ [74]
Ta-bà ha [75]
Đát nể dã thá, phạ lồ chỉ đế, thấp phạ ra dã,
tát bà đốt sắc, tra ô hạ di dả, Sá-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Nhựt-Quang Bồ-tát
Đà-ra-ni
(vẫn quỳ, tiếp sám hối)
Chí tâm sám hối:
Đệ tử .... cùng pháp-giới chúng- sanh, hiện-tiền một tâm, vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần, cùng với trí sáng, trên sánh chư Phật, dưới đồng muôn loài. Bởi niệm vô-minh, che ánh sáng kia, nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm, trong pháp bình-đẳng, sanh tưởng ngã nhơn. Lại do ái-kiến làm gốc, thân miệng làm duyên, trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội: thập-ác ngũ nghịch, báng pháp báng người, phá giới phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng-kỳ, bức người tịnh-hạnh, xâm tổn thường-trụ, đồ vật thức ăn, dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối. Những tội như thế, không lường không ngần, khi bỏ bảo thân, phải đọa tam-đồ, chịu vô-lượng khổ.
Lại trong đời này, do túc, hiện chướng, hoặc bị các nghiệp: lửa phiền thiêu đốt, tật bịnh vây quanh, duyên ngoài lôi cuốn, tà ma quấy nhiễu, làm ngăn đạo pháp, khó nổi tiến tu.
May gặp thần-chú, Viên-Mãn Đại-Bi, có thể mau trử, những tội như thế, cho nên nay con, hết lòng tụng-trì, con nguyện nương về, Quán- Âm Bồ-tát, cùng Phật mười phương, phát lòng bồ-đề, tu hạnh chân- ngôn, cùng với chúng-sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ.
Nguyện đấng Đại-bi, Quán-Âm Bồ-tát, ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con, duyên chướng trong ngoài, thảy đều dứt sạch, mình, người, hạnh nguyện, cùng được viên thành, mở tánh bản-tri, dẹp trừ ma-ngoại, ba nghiệp siêng cần, tu nhân tịnh-độ.
Nguyện cho chúng con, khi bỏ thân này, không vào đường khác, quyết được sanh về, thế giới Cực-Lạc của Phật Di Đà, rồi được thừa sự, Đại-Bi Quán Âm đủ các tổng-trì, rộng độ quần phẩm, đồng thoát khổ-luân, đều thành Phật-đạo.
(Đứng lên chấp tay xướng)
Ðệ-tử Sám-hối, phát-nguyện rồi, chí-tâm đảnh-lễ Tam-bảo. (1 lạy)
Khể thủ tây phương An-Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng-sanh đại đạo sư
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh
Duy nguyện từ-bi ai nhiếp thọ
Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp-giới chúng-sanh cầu ư chư Phật, nhứt thừa vô-thượng bồ-đề đạo-cố, chuyên tâm trì niệm A-Di-Ðà-Phật vạn đức hồng danh kỳ sanh tịnh-độ. Duy nguyện Từ-Phụ A-Di-Ðà Phật ai lân nhiếp thọ từ-bi gia hộ.
A-Di-Ðà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang-minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-Di.
Hám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa bồ-tát chúng diệc vô-biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ PHÁP GIỚI TẠNG THÂN A DI ĐÀ PHẬT.
(Kế tiếp, Kinh Hành Niệm Phật
hay Ngồi kiết già hoặc bán già niệm Phật)
NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
(108 x 10 = 1080 câu trở lên)
Lúc xướng chữ A
KINH: Lúc xướng chữ A, thời nhập bát nhã ba la mật môn tên là Bồ Tát oai lực nhập vô sai biệt cảnh giới.)
( Chuyên tụng Vô Lượng Thọ Như Lai Đà Ra Ni cũng được vãng sanh, nhưng vì câu chân ngôn dài khó nhiếp tâm hơn sáu chữ hồng danh, nên sau khi trì chú lại tiếp niệm Phật.
Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:
1 – Ký số niệm: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là ký số.
2 – Chứng số niệm: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là chứng số. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.
3 –Chỉ quán niệm: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là Chỉ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt. Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là Quán. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép Chỉ, hôn trầm dùng phép Quán.
4 – Tịch tĩnh niệm: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là Tịch tĩnh niệm.
Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.)
3.- PHẦN PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG
(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)
Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)
Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)
Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)
Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)
Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)
(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)
Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.
Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đến rước từ xa.
Quán Âm cam lồ rưới nơi đầu
Thế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong một sát na lìa ngũ trược,
Khoảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen nở thấy Từ Tôn
Nghe tiếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong liền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem phương tiện lợi quần sanh
Hay lấy trần lao làm Phật sự,
Con nguyện như thế Phật chứng tri.
Kết cuộc về sau được thành tựu.
( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)
NHỨT TÂM QUY MẠNG ÐẢNH LỄ: Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư PHÁP GIỚI TẠNG THÂN A-Di-Ðà Như-Lai biến pháp giới Tam bảo (1 lạy)
NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ:
Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật Biến Pháp-giới Tam-Bảo (1 lạy)
Thiên Thủ Thiên Nhãn
Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma ha tát (1 lạy)
NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ:
Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)
Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)
Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)
Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)
CHUNG
Đức Phật lại bảo ngài A Nan:
- Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát có ngàn mắt ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh. Đó cũng là do tâm Đại Bi của vị Đại Sĩ ấy hóa hiện.
(PC: Những chân ngôn sau đây, chỗ có vạch ngang dài(--) là chữ đọc kéo hơi dài ra, chữ có ngang vắn (-) là hai chữ đọc hiệp lại làm một, muốn cầu điều gì, đọc chân ngôn theo điều ấy).
Đức Phật lại bảo ngài A Nan:
![]() |
1. Nếu chúng sanh nào muốn được giàu lớn, có nhiều thứ châu báu, đồ dùng, nên cầu nơi tay cầm châu như ý.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.
2. Nếu bị các việc khuấy rối, muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm dây quyến sách.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
3. Nếu muốn trị các thứ bịnh trong bụng, nên cầu nơi tay cầm cái bát báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt-ra, hồng phấn
tra.
|
4. Nếu muốn hàng phục tất cả quỷ, thần, vọng, lượng, nên cầu nơi tay cầm gươm báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- đế thế đế nhá, đổ vỉ nảnh,
đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.
5. Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi tay cầm bạt chiết la.
* Chân ngôn rằng: Án-- nể bệ nể bệ, nể bà dã, ma ha thất rị duệ,
tát-phạ hạ.
6. Nếu muốn hàng phục tất cả oán tặc, nên cầu nơi tay cầm chày kim cang.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra chỉ-nảnh,
bát-ra nể bát đa dã, tát-phạ hạ.
7. Nếu muốn trừ tánh ở tất cả chỗ sợ hãi không yên, nên cầu nơi tay thí vô úy.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra nẳng dã, hồng phấn tra.
8. Nếu muốn trị bịnh mắt mờ không thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm châu nhựt tinh ma ni.
* Chân ngôn rằng: Án-- độ tỉ, ca giả độ tỉ,
bát ra phạ rị nảnh, tát-phạ hạ.
9. Nếu bị bịnh nhiệt độc, muốn được mát mẻ hết bịnh, nên cầu nơi tay cầm châu nguyệt tinh ma ni.
* Chân ngôn rằng: Án-- tô tất địa yết-rị, tát-phạ hạ.
10. Nếu muốn được làm quan, lên chức, nên cầu nơi tay cầm cung báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a tả vĩ, lệ, tát-phạ hạ.
11. Nếu muốn được mau gặp các bạn lành, nên cầu nơi tay cầm tên báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- ca mạ lã, tát-phạ hạ.
12. Nếu muốn trị các thứ bịnh trên thân, nên cầu nơi tay cầm cành dương liễu.
* Chân ngôn rằng: Án-- Tô tất địa, ca rị phạ rị, đa nẩm đa,
mục đa duệ, phạ nhựt ra, phạ nhựt ra bạn đà,
hạ nẳng hạ nẳng, hồng phấn tra.
13. Nếu muốn trừ những chướng nạn ác bên thân, nên cầu nơi tay cầm cây phất trắng.
* Chân ngôn rằng: Án-- bát na di nảnh, bà nga phạ đế,
mô hạ dã nhá, nga mô hạ nảnh, tát-phạ hạ.
14.Nếu muốn tất cả người trong quyến thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm cái hồ bình.
* Chân ngôn rằng: Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
15. Nếu muốn xua đuổi loài hổ báo, sài lang và tất cả ác thú, nên cầu nơi tay cầm cái bàng bài.
* Chân ngôn rằng: Án-- dược các sam nẳng, na dã chiến nại-ra,
đạt nậu bá rị-dã, bạt xá bạt xá, tát-phạ hạ.
16. Nếu muốn trong tất cả thời, tất cả chỗ, lìa nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm cây phủ việt.
* Chân ngôn rằng: Án-- vị ra dã, vị ra dã, tát-phạ hạ.
17. Nếu muốn có tôi trai tớ gái để sai khiến, nên cầu nơi tay cầm chiếc vòng ngọc.
* Chân ngôn rằng: Án-- bát na hàm vị ra dã, tát-phạ hạ.
18. Nếu muốn được các thứ công đức, nên cầu nơi tay cầm hoa sen trắng.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, vị ra dã, tát-phạ hạ.
19. Nếu muốn được sanh về mười phương tịnh độ, nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh.
* Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt-ra,
bộ ra bạn đà, hồng phấn tra.
20. Nếu muốn được trí huệ lớn, nên cầu nơi tay cầm cái gương báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- vỉ tát phổ ra, na ra các xoa,
phạ nhựt-ra, mạn trà lả, hồng phấn tra.
21. Nếu muốn được diện kiến mười phương tất cả chư Phật, nên cầu nơi tay cầm hoa sen tím.
* Chân ngôn rằng: Án-- tát ra tát ra, phạ nhựt-ra ca ra, hồng phấn tra.
22. Nếu muốn lấy được kho báu ẩn trong lòng đất, nên cầu nơi tay cầm cái bảo kíp.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, bá thiết ca rị,
yết nẳng hàm, ra hồng.
23. Nếu muốn được đạo tiên, nên cầu nơi tay cầm hóa hiện mây ngũ sắc.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, ca rị ra tra hàm tra.
24. Nếu muốn sanh lên cõi Phạm Thiên, nên cầu nơi tay cầm bình quân trì (TỊNH BÌNH).
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-ra, thế khê ra, rô tra hàm tra.
25. Nếu muốn được sanh lên các cung trời, nên cầu nơi tay cầm hoa sen hồng.
* Chân ngôn rằng: Án-- thương yết lệ, tát-phạ hạ.
26. Nếu muốn xua đuổi giặc nghịch ở phương khác đến, nên cầu nơi tay cầm cây bảo kích.
* Chân ngôn rằng: Án-- thẳm muội dã, chỉ nảnh hạ rị,
hồng phấn tra.
27. Nếu muốn triệu tất cả chư thiên thiện thần, nên cầm nơi tay ống loa báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- thương yết-lệ,
mạ hạ thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
28. Nếu muốn sai khiến tất cả quỷ thần, nên cầu nơi tay cầm cây gậy đầu lâu.
* Chân ngôn rằng: Án-- độ nẳng, phạ nhựt-ra xá.
29. Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến đưa tay tiếp dẫn, nên cầu nơi tay cầm xâu chuỗi ngọc.
* Chân ngôn rằng: Nẳng mồ-- ra đát-nẳng,
Án-- a na bà đế vĩ nhá duệ,
30. Nếu muốn có được tất cả phạm âm thanh tốt nhiệm mầu, nên cầu nơi tay cầm chiếc linh báu.
* Chân ngôn rằng: Nẳng mồ-- bát na hàm bá noa duệ.
Án-- a mật lật đảm, nghiểm bệ thất rị duệ,
thất rị chiếm rị nảnh, tát-phạ hạ.
31. Nếu muốn được miệng nói biện luận hay khéo, nên cầu nơi tay cầm chiếc ấn báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ-nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát-phạ hạ.
32. Nếu muốn được Thiên thần, Long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi tay cầm cu thi thiết câu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a rô rô, đa ra ca ra, vỉ sa duệ.
Nẳng mồ-- tát-phạ hạ.
33. Nếu vì lòng từ bi muốn cho tất cả chúng sanh được nhở sự che chở giúp đỡ, nên cầu nơi tay cầm cây tích trượng.
* Chân ngôn rằng: Án-- na lật thế, na lật thế,
na lật tra bát để, na lật đế na dạ bát nảnh,
hồng phấn tra.
34. Nếu muốn cho tất cả chúng sanh thường cung kính yêu mến nhau, nên cầu nơi tay hiệp chưởng.
* Chân ngôn rằng: Án --bát nạp mạng nhá lăng, hất rị.
(Theo trong tạng-bản, lại có chơn-ngôn:
Án --vỉ tát ra, vỉ tát ra, hồng phấn tra.)
35. Nếu muốn tùy theo chỗ sanh, thường ở bên Phật, nên cầu nơi tay hiện hóa Phật.
* Chân ngôn rằng: Án-- chiến na ra, ba hàm tra rị,
ca rị na, chỉ rị na, chỉ rị nỉ, hồng phấn tra.
36. Nếu muốn đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không thọ sanh ở bào thai, nên cầu nơi tay hiện hóa cung điện.
* Chân ngôn rằng: Án-- vi tát ra, vi tát ra, hồng phấn tra.
37. Nếu muốn được học rộng nghe nhiều, nên cầu nơi tay cầm quyển kinh báu.
* Chân ngôn rằng: Án-- a hạ ra, tát ra phạ ni,
nể dã đà ra, bố nể đế, tát-phạ hạ.
38. Nếu muốn từ thân này cho đến thân thành Phật, tâm bồ đề thường không lui sụt, nên cầu nơi tay cầm bất thối kim luân.
* Chân ngôn rằng: Án-- thiết na di tả, tát-phạ hạ.
39. Nếu muốn mười phương chư Phật mau đến xoa đầu thọ ký, nên cầu nơi tay đảnh thượng hóa Phật.
* Chân ngôn rằng: Án-- phạ nhựt-rị ni,
phạ nhựt-lảm nghệ tát-phạ hạ.
40. Nếu muốn có được cây trái ngũ cốc, nên cầu nơi tay cầm chùm bồ đào.
* Chân ngôn rằng: Án-- A-ma lã kiếm đế nể nảnh, tát-phạ hạ.
41. Nếu muốn cho tất cả loài hữu tình đói khát được no đủ mát mẻ, nên cầu nơi tay hóa nước cam lộ.
* Chân ngôn rằng: Án-- Tố rô tố rô, Bác-ra tố rô, Bác-ra tố rô,
tố rô tố rô dã, Tát-phạ hạ.
42. Nếu muốn hàng phục ma oán trong cõi đại thiên, nên cầu nơi tay tổng nhiếp thiên thủ.
* Chân ngôn rằng: Đát nể dã thá, phạ lồ chỉ đế, thấp phạ ra dã,
tát bà đốt sắc, tra ô hạ di dả, Sá-phạ hạ.
- Này A Nan! Những việc có thể mong cầu như thế, kể có ngàn điều. Nay ta chỉ nói lược qua chút ít phần thôi.
Khi ấy Nhựt Quang Bồ Tát vì người thọ trì Đại Bi Tâm đà ra ni nói đại thần chú để ủng hộ rằng:
Nam mô bột-đà cù na mê.
Nam mô đạt-mạ mạc ha đê.
Nam mô tăng-già đa dạ nê.
Để chỉ bộ tất tát đốt chiêm nạp mạ.
Nhựt Quang Bồ Tát bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này diệt được tất cả tội, cũng đuổi được ma và trừ thiên tai. Nếu kẻ nào tụng chú này một biến, lễ Phật một lạy, mỗi ngày chia ra làm ba thời tụng chú lễ Phật như thế, trong đời vị lai tùy theo chỗ thọ thân, thường được tướng mạo xinh đẹp, được quả báo đáng vui mừng.
Nguyệt Quang Bồ Tát cũng vì hành nhơn mà nói đà ra ni để ủng hộ rằng:
Thâm đê đế đồ tô tra.
A nhã mật đế ô đô tra.
Thâm kỳ tra.
Ba lại đế.
Gia di nhã tra ô đô tra.
Câu la đế tra kỳ ma tra.
Sá-phạ hạ.
Nguyệt Quang Bồ Tát lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này năm biến, rồi lấy chỉ ngũ sắc xe thành sợi niệt, gia trì chú vào, buộc tréo nơi tay, chú này do bốn mươi hằng sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra, nay tôi cũng nói để vì các hành nhơn mà làm duyên ủng hộ. Chú này có công năng trừ tất cả chướng nạn, tất cả bịnh ác, xa lìa tất cả sự sợ hãi.
Đức Phật bảo ngài A Nan:
- Ông nên dùng lòng trong sạch tin sâu mà thọ trì môn Đại Bi tâm đà ra ni này và lưu bố rộng ra trong cõi Diêm Phù Đề, chớ cho đoạn tuyệt. Đà ra ni này có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh trong ba cõi. Tất cả bịnh khổ ràng buộc nơi thân, nếu dùng đà ra ni này mà trị thì không bịnh nào chẳng lành, dùng đại thần chú này tụng vào cây khô, cây ấy còn được sanh cành lá, trổ bông, trái, huống chi là chúng sanh có tình thức ư? Nếu thân bị đại bịnh, dùng chú này mà trị không lành, lẽ ấy không bao giờ có.
- Này thiện nam tử! Sức oai thần của Đại Bi tâm đà ra ni không thể nghĩ bàn! Không thể nghĩ bàn! Khen ngợi không bao giờ hết được, nếu chẳng phải là kẻ từ thời quá khứ lâu xa đến nay đã gieo nhiều căn lành, thì dù cho cái tên gọi còn không được nghe, huống chi là được thấy! Nay đại chúng các ông, cả hàng trời, người long thần, nghe ta khen ngợi phải nên tùy hỉ. Nếu kẻ nào hủy báng thần chú này tức là hủy báng 99 ức hằng hà sa chư Phật kia. Nếu người nào đối với đà ra ni này sanh nghi không tin, nên biết kẻ ấy sẽ vĩnh viễn mất sự lợi ích lớn, trăm ngàn muôn kiếp không bao giờ nghe thấy Phật, Pháp, Tăng, thường chìm trong tam đồ không biết bao giờ mới được ra khỏi.
Khi ấy, tất cả chúng hội, Bồ Tát Ma ha tát, Kim Cang mật tích, Phạm vương, Đế Thích, tứ đại Thiên vương, Thiên, Long, quỷ thần, nghe đức Như Lai khen ngợi môn đà ra ni này xong, thảy đều vui mừng, y lời dạy mà tu hành.
PHẬT ĐẢNH QUANG TỤ CỨU CÁNH KIÊN CỐ
ĐẠI BẠCH TÁN CÁI THẦN CHÚ
Thu nhiếp tâm ý gọi là GIỚI, nhân giới phát ĐỊNH lực, nhân định có trí HUỆ.
Nếu có tập khí các đời trước không thể diệt trừ,
ông dạy người đó nên nhất tâm tụng thần chú của ta:
PHẬT ĐẢNH QUANG TỤ
MA HA TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA
THỦ LĂNG NGHIÊM THẦN CHÚ
MA HA TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA
ĐÀ RA NI CHÚ
ĐÁC ĐIỆC THA.
ÁN, A NA LỆ, TỲ XÁ ĐỀ, BỆ RA, BẠT XÀ-RA, ĐÀ RỊ, BÀN ĐÀ BÀN ĐÀ NỂ, BẠT XÀ-RA BÁN NI PHẤN. HỔ HỒNG ĐÔ LÔ UNG PHẤN, TA BÀ-HA.
ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH
Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ KINH HOA NGHIÊM, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:
Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch hình!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT
Năm Mùi non-nước một màu Tân,
Cánh én, cành mai đón chúa Xuân.
Đức mõng đã cam bề ẩn-dật,
Tài sơ vui với đạo thanh-bần.
Xin tu theo Phật môn huyền-diệu,
Chớ nghĩ phàm tăng chốn bạch-vân.
Nếu có túc-duyên rồi sẽ gặp,
Đừng lên mâu thất bận xa-gần.
(Năm Tân-Mùi 1990 được gởi ra từ trong tịnh-thất cho một Phật-tử ở phương-xa về thăm)
(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)
1. TÂM TỊNH LÀ TỊNH ĐỘ… CẦN GÌ PHẢI CẦU SANH VỀ TỊNH ĐỘ LÀM GÌ..ĐỀU LÀ CẢNH “NGOAN KHÔNG” , ĐỀU LÀ “TÂM VỌNG TƯỞNG”,
“ CHƠN TÂM BỔN TÁNH” của mình không sanh không diệt, mười pháp giới, dù là Phật hay súc sanh, dù là CỰC LẠC hay TA BÀ… cũng có cùng một CHƠN TÂM này. Vì “CHƠN TÂM” vô ngã (NHÂN VÔ NGÃ, PHÁP VÔ NGÃ) nên hễ duyên với pháp lành thì thành Phật, thành Bồ-tát, THÀNH CỰC LẠC… Còn duyên với pháp ác thì thành ngạ qủi, thành súc sanh, THÀNH TA BÀ…
NẾU CÕI CỰC LẠC DO “DUY TÂM” SỞ HIỆN, THÌ PHẢI CÓ ĐỦ CHÁNH BÁO (PHẬT VÀ NHÂN DÂN CỦA NGÀI) , Y BÁO ( ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, CÂY, CHIM …ĐỀU THUYẾT PHÁP). CHIM LÀ Y BÁO VÌ DO PHẬT DI ĐÀ BIẾN HÓA RA .
NẾU KHÔNG CÓ ĐỦ “Y BÁO VÀ CHÁNH BÁO” MÀ NÓI TỊNH ĐỘ Ở TRONG TÂM, CỰC LẠC Ở TẠI ĐÂY, TÂM TỊNH LÀ TỊNH ĐỘ… CẦN GÌ PHẢI CẦU SANH VỀ TỊNH ĐỘ LÀM GÌ..ĐỀU LÀ CẢNH “NGOAN KHÔNG” , ĐỀU LÀ “TÂM VỌNG TƯỞNG”, CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ “CHƠN TÂM SỞ HIỆN NHƯ TRONG KINH HOA NGHIÊM, LĂNG NGHIÊM, DUY MA CẬT… ĐÃ NÓI.”
KINH A DI ĐÀ
NHƠN HẠNH VÃNG SANH
Xá-Lợi-Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, đắc sanh bỉ quốc.
Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nư nhơn, văn thuyết A-Di-Ðà Phật, chấp trì danh-hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn.
Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A-Di-Ðà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền.
Thị nhơn chung thời, tâm bất điên-đảo, tức đắc vãng sanh A-Di-Ðà Phật Cực-lạc quốc-độ.
Xá-Lợi-Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn.
Nhược hữu chúng-sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.
DIỆU HIỆP
Diệu Hiệp đại sư, người ở huyện cần tại Minh Châu. Ngài xuất gia khoảng cuối đời nhà Nguyên sang đầu triều Minh, nghiên cứu tinh tường về Thiên Thai giáo quán, chuyên tu môn Niệm Phật tam muội. Đại sư có soạn thuật hai quyển Niệm Phật Trực Chỉ, trong đó thiên Trực Chỉ Tâm Yếu phá vọng hiển chân, biện giải đến chỗ tinh vi. Văn rằng:
“… Đức Thế Tôn thấy cõi Ta Bà có các sự khổ: sanh, già, bịnh, chết, nghiệp phiền não thiêu đốt buộc ràng, nên khuyên chúng hữu tình niệm Phật A Di Đà cầu sanh về Cực Lạc. Nhưng cách Phật lâu xa, con đường thánh đạo càng bị cỏ tranh khuất lấp. Nhiều người nghe nói: “Các pháp đều ở nơi tâm”, liền lầm nhận nghiệp vọng tưởng thuộc bóng duyên sáu trần trong thân là tâm mình. Do đó nên bảo: “Phật ở nơi đây, cõi Cực Lạc cũng ở trong ấy, không cần tìm cầu đâu xa!” Họ không biết thể huyễn bóng duyên sáu trần đó, thuộc về vọng tâm, vốn không bền chắc. Nếu tiền trần tiêu tan, vọng tâm ấy liền diệt. Như thế, làm sao có cõi Cực Lạc ở trong đó được?
Có kẻ lại miễn cưỡng bảo: “Các bậc ngộ đạo thấy tánh đều nói cõi Phật ở nơi tâm. Đã thấy tánh, lẽ đâu còn chấp bóng duyên của sáu trần nữa!” Các người ấy đâu biết rằng sự ngộ đạo thấy tánh đó, là ngộ được bản tâm chân thật, chớ không phải là vọng tâm như họ tưởng. Muốn ngộ được chân tâm ấy, phải thấu suốt tâm vọng thuộc bóng duyên sáu trần vốn ở trong huyễn thân, huyễn thân lại ở trong thế giới, và tất cả thế giới thật lành hoặc nhơ ác đều ở trong hư không. Thể hư không ấy tuy bao gồm tất cả y báo chánh báo của mười phương, rộng lớn không ngằn mé, nhưng lại ở trong chân tâm sáng suốt bất động vô cùng vô tận của ta, ví như một cụm mây nhỏ điểm lơ lửng giữa khoảng thái thanh bao la lặng lẽ. Chân tâm đã rộng lớn như thế, làm sao tất cả mười phương thế giới hoặc nhơ hoặc sạch lại không ở trong tâm? Thế thì đức Phật hoặc các bậc ngộ đạo nói các pháp ở nơi tâm, là chỉ cho chân tâm đó, chớ không phải vọng tâm thuộc bóng duyên sáu trần trong huyễn thân nầy đâu! Chân tâm ấy vượt niệm hiểu biết, lìa sự thấy nghe, dứt hẳn các tướng sanh, diệt, thêm, bớt. Tất cả thế giới gồm thân chư Phật và chúng sanh đã ở trong chân tâm đó, thì cảnh Ta Bà cùng Cực Lạc đều là tâm của ta. Cho nên các hữu tình ở trong đó tùy ý bỏ đông cầu tây, chán cõi nhơ thích cảnh sạch, dù có trước tướng, vẫn không lìa ngoài chân tâm.
Bởi thế, khi cảnh tướng đẹp của cõi Cực Lạc và đức A Di Đà hiện ra, tức từ tâm ta hiển lộ. Và khi tâm ta hiển lộ thì đức A Di Đà hiện ra. Tâm ta là tâm đức Phật kia, đức Phật kia là Phật của tâm ta, đồng một thể không khác, nên gọi “duy tâm Tịnh độ, bản tánh Di Đà”. Cho nên khi nói duy tâm hay bản tánh, chẳng phải chỉ cho cái vọng tâm sanh diệt thuộc bóng duyên sáu trần trong huyễn thân. Và ở phương Tây chẳng phải không có cõi Cực Lạc cùng đức A Di Đà, mà nói không cần tìm cầu. Cầu đức Phật kia chính là cầu tâm mình, muốn sớm ngộ chân tâm mình, phải cầu đức Phật kia. Thế thì tại sao đời nay các nhà thức giả vừa mới biết chút ít lý thiền, những tăng sĩ nông cạn phá rối Phật pháp, không nghiên tầm sâu chân lý để ngộ cảnh tức là tâm? Mà trở lại ở trong môn Bất nhị, họ chia trong chia ngoài, phân tâm phân cảnh, dạy người tìm trong bỏ ngoài, lìa cảnh để cầu tâm, khiến lòng thương ghét thêm rộng nhiều, niệm phân biệt càng sâu đậm? Khi phân chia cảnh, thì cho cõi Cực Lạc ở ngoài, dạy người chẳng nên cầu vãng sanh … Và khi phân chia tâm, lại lầm nhận vọng thức là tâm, bảo cõi Cực Lạc ở trong đó. Càng sai lầm hơn nữa, họ cho chân tâm là rỗng không, lìa tất cả cảnh tướng nhân quả lành dữ tội phước, nên từ đó muốn tỏ ra mình là vô ngại, lại buông lung theo duyên đời, dạy người không cần lễ Phật. Tụng kinh, sám nguyện, tu phước bảo là trước tướng. Đối với cảnh Thiên cung, Địa ngục và các cõi Tịnh, độ, tuy nghe trong kinh nói đến, nhưng vì mắt phàm không thấy, họ bác hẳn nói không có, cho lời kinh là quyền thuyết. Họ lại bảo cảnh vui hiện tại, hay một niệm vui tươi là Thiên đường, cảnh khổ trước mắt, hoặc một niệm phiền não là Địa ngục. Sự hiểu biết cạn cợt nông nổi như trên, thật đáng thương xót!
Phải biết tâm ta cùng tâm Phật đồng một chân thể. Đức A Di Đà chứng ngộ đầy đủ tâm ấy, nên phóng ánh sáng oai đức soi khắp mười phương, dùng sức nguyện thương xót rộng sâu nhiếp lấy những chúng sanh niệm Phật. Ta tuy đồng một tâm thể với Phật, nhưng bởi bị sức nghiệp vô minh phiền não che lấp buộc ràng, chưa chứng ngộ được bản tâm, nên cần phải tu tất cả hạnh lành, và niệm Phật để cầu sanh Cực Lạc. Vì tất cả pháp chẳng phải khác, nên muôn hạnh đều hướng về chân tâm, đều trôi về biển Phật. Bởi tất cả pháp chẳng phải đồng, nên tuy cùng một tâm thể, vẫn có thiện có ác, có uế có tịnh, thì ở địa vị phàm phu phải bỏ ác cầu thiện, bỏ uế cầu tịnh, phát nguyện cầu sanh để mau chứng quả chân tâm. Khi tu hành như thế, ví như một giọt nước gieo vào biển, tất cả sẽ đồng một vị một thể với biển cả. Lúc được chứng ngộ toàn thể chân tâm, thì trong ánh đại quang minh sẽ thấy tất cả cảnh tướng thiện ác nhơ sạch ở mười phương thế giới đều như bóng như huyễn, sanh diệt không dừng. Sự thiện ác nhơ sạch sanh diệt như huyễn ấy, cũng tức là tâm, nhưng không làm ngại đến tâm thể đại quang minh, như một cụm mây nhỏ không làm ngại đến hư không bao la rộng rãi. Chứng ngộ được như thế mới có thể nói là vô ngại.
Đa số hàng thiện tín nơi thôn ấp quê mùa, tuy không thông hiểu Phật lý, nhưng vì tin có Phật và cõi Cực Lạc, chuyên tâm làm lành phát nguyện niệm Phật, nên khi lâm chung được sự lợi ích vãng sanh, lên ngôi Bất thối chuyển, mau chứng quả Đại bồ đề. Trái lại người có chút ít học thức thông minh, bởi chưa thấu suốt lý tánh, bác sự tướng, trệ vào thiên không, dù tu đạo hạnh, kết cuộc lại lạc vào vòng ngoại đạo, chìm trong nẻo luân hồi. Cho nên hàng Phật tử chân chánh, về chữ Tín phải tin có tội phước nhân quả, có Địa ngục Thiên đường, có mười phương Tịnh độ. Về chữ Nguyện, nên phát tâm cầu sanh Cực Lạc, để sớm thoát ly nỗi khổ ở Ta Bà, mau chứng ngộ bản tâm, khởi sự luân hồi sống chết, rồi độ tất cả chúng sanh đồng thành Phật quả. Về chữ Hạnh, phải hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, tu các nghiệp lành, thọ trì tam quy, giữ gìn giới phẩm, phát lòng Bồ đề, tụng kinh niệm Phật, khuyên người tu hành, đem tất cả công đức ấy hồi hướng về Tây phương. Phải nghĩ mạng người vô thường, chỉ mong manh trong hơi thở, việc thế tục quanh quẩn buộc ràng, móc nối nhau không dứt. Nếu chẳng phát tâm mạnh mẽ, cắt một dao cho đứt đoạn, nhảy hết sức để vượt qua, thì biết chừng nào mới được an nhàn giải thoát? Nay tôi thiết tha đảnh lễ, kính khuyên các Phật tử, nên một lòng thật ngộ thật tu, nguyện ngày kia đồng làm bạn lành nơi cõi Liên hoa thế giới…”
Về sau khi lâm chung, đại sư biết ngày giờ trước, an tường niệm Phật mà vãng sanh.
MẤY ĐIỆU SEN THANH
HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH
ĐẠI PHẬT ĐẢNH
CHÚ “ĐẠI BI” KHÔNG PHẢI “PHÁP HÀNH”?
Tại sao chư Phật, Bồ-tát, Tổ-sư từ xưa tới nay
vẫn trì chú Đại-bi để cứu độ chúng-sanh?
“Vấn đề hoằng dương Phật pháp không phải là sự dễ.
Nói đâu phải có văn Kinh làm chứng đến đó, mới thủ tín được".
Phải biết chư PHẬT, BỒ TÁT hoằng pháp có nhiều cách : hoặc THUẬN hoặc NGHỊCH, hoặc ẩn hoặc hiển, kiến thức phàm phu không thể hiểu thấu. Biết chừng đâu ĐẦU ĐÀ MINH TUỆ thị hiện không rõ thấu để thúc đẩy thêm sự tín hướng CHÚ ĐẠI BI của người sau!” !?
“HÀNG PHỤC” LÀ LÀM CHO “CHÚNG SANH”
MAU THÀNH “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”.
Hỏi: Thầy có trì chú Đại Bi không?
Đáp: À, cái chú đó học làm cái gì đâu! Con không học chú Đại Bi. Con đọc qua, vậy thôi, cái đó không phải pháp hành.
Hỏi: Sao rất nhiều người hay đọc chú đó, rất là linh nghiệm?
Đáp: Dạ, nhưng cho con hỏi, anh có thể nói chú Đại Bi chắc anh cũng hiểu về chú Đại Bi rồi?
Hỏi: con có đọc nhưng không hiểu.
Đáp: Chú Đại Bi chẳng hạn như đọc cái thần chú đó lên với mục đích làm gì cơ? Nếu mà để trừ TÀ, trừ MA hay trừ QUỶ gì đó để cho mình yên ổn, được an ổn. Chẳng hạn như giờ con thấy một con quỷ ở đó, tới đọc thần chú để hại nó, để mình được an ổn thì mình độc ác, đâu có cần thần chú đó đâu? Mình TỪ BI, mình hại họ, đánh đập họ, đuổi họ đi để mình có chỗ ở, hay mình được an ổn thì cái đó học làm gì đâu? ĐÓ LÀ ĐIỀU ÁC!
(Nếu mà để trừ TÀ, trừ MA hay trừ QUỶ gì đó để cho mình yên ổn, được an ổn. KINH, LUẬT, LUẬN nào nói đều nầy?
Và từ (Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai) ấy đến nay, tôi (Bồ-tát Quán Thế Âm) vẫn hằng trì tụng chú (ĐẠI BI) này, chưa từng quên bỏ.
Bồ- tát Quán Thế Âm trong vô lượng kiếp về trước từng thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai mà chưa từng quên bỏ. (CHÚ ĐẠI BI)
Vậy Bồ-tát Quán Thế Âm không có “TÂM ĐẠI BI CHĂNG” ?
Lại nói, trì chú ĐẠI BI để được TÂM ĐẠI BI; nhưng ĐẦU ĐÀ MINH TUỆ
đã có TÂM ĐẠI BI rồi, cần chi phải trì CHÚ ĐẠI BI?
Vậy Bồ-tát Quán Thế Âm cũng phải hổ thẹn với “ĐẦU ĐÀ MINH TUỆ"
rồi phải không?













































































































































Comments
Post a Comment