5.
The Vajra Hand and Eye
The Sutra says: “For
subduing all heavenly demons and
spirits, use the Vajra Hand.”
The Mantra: Je ji la e
syi two ye.
The True Words: Nan. Ni
bi ni bi. Ni ba ye. Mwo he shr li
ye. Sa
wa he.
The verse:
Held
up high, the Dharma-thunder frightens the dull and the dark.
Beaten,
beaten, the Dharma-drum shakes the blind and deaf.
Casting
shade everywhere, the Dharma-cloud benefits all things.
Showering
everywhere, the Dharma-rain gives moisture to all beings.
5.
Bạt-Chiết-La Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn hàng phục tất cả
thiên-ma và thần,
nên cầu nơi Tay cầm cây Bạt-Chiết-La.”
Thần-chú
rằng: Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ [68]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- nể bệ nể bệ, nể bà dã, ma ha thất rị
duệ, tát-phạ hạ.
Kệ
tụng:
Pháp lôi cao
kình cảnh ngoan minh
Pháp cổ phủ
xao chấn quý lung
Pháp vân phổ
âm lợi vạn vật
Pháp vũ biến
sái nhuận quần sinh.
(Pháp Bạt
Chiết La như Sấm Sét thức tỉnh người ngu tối
Pháp Bạt Chiết
La như Đánh Trống làm chấn động kẽ điếc mù
Pháp Bạt Chiết
La như Mây Che trở cho vạn vật được mát mẽ
Pháp Bạt Chiết
La như Mưa rưới nước Cam Lồ mang lại sự sống cho quần sanh.)
Bạt-Chiết-La
là âm tiếng phạn của chữ VAJRA, dịch là Kim-cang-xử, đây cũng là một loại chày
Kim-cang.
Những
chân ngôn sau đây, chỗ có vạch ngang dài (--) là chữ đọc kéo hơi dài ra, chữ có
vạch ngang vắn (-) là hai chữ đọc hiệp lại làm một, muốn cầu điều gì, đọc chân
ngôn theo điều ấy.
(HT. THÍCH THIỀN TÂM)
Cam-lồ
như sương có vị ngọt làm cho THÂN TÂM của chúng sanh được mát mẽ an vui.
Nếu
QÚY VỊ thường trì BẠT CHIẾT LA THỦ NHÃN ẤN PHÁP, thì cũng như SẤM SÉT, như ĐÁNH
TRỐNG, như MÂY CHE, như NƯỚC CAM LỒ, để KHAI THI cho chúng sanh NGỘ NHẬP PHẬT
TRI KIẾN. Đặc biệt là chư THẦN và THIÊN MA, vì HỌ thọ ÂN SÂU, cho nên thường
theo HỘ VỆ BÊN HÀNH GIẢ tu THỦ NHÃN nầy.
Held up high, the Dharma-thunder frightens the dull and the dark.
Beaten, beaten, the Dharma-drum shakes the blind and deaf.
Casting shade everywhere, the Dharma-cloud benefits all things.
Showering everywhere, the Dharma-rain gives moisture to all beings.
Pháp lôi cao kình Cảnh ngoan minh
Pháp cổ phủ xao Chấn quý lung
Pháp vân phổ âm Lợi vạn vật
Pháp vũ biến sái Nhuận quần sinh.
5. Bạt-Chiết-La Thủ Nhãn Ấn Pháp
Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ [68]
Ta-bà ha [69]
Án-- nể bệ nể bệ, nể bà dã, ma ha thất rị duệ, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
68. CHAKRA ASTAYA
CHAKRA ASTAYA means
“vajra wheel.” Most vajras are round, but this one is round in a different way
from other vajras. The sentence also means “conquering hateful demons.” Demons
are Demons because their hearts are always upset.
They are critical of everything. They say, “The Buddhas do
things incorrectly and so do the Budhisattvas, Arhats, gods and Yama!” They
violently object to everything and hate everything. “Everything is
wrong!”
They are like insane people who pay no attention to any laws at
all. They are odds with the entire world. Among people this is called insanity;
among the ghosts and spirits it’s called “demonism.”
Hateful demons fill the skies with their hateful energies.
“You’re all just too impolite to me,” they complain. “Buddha? I’ll knock him
over. Bodhisattvas and Arhats, I’ll do the same. People I’ll eat them all!
Ghosts, I’ll squash them beneath my feet. I’ll grab them and squeeze
them to death!” Demons are violent!
With the Vajra Hand and Eye, the vajra wheel, you
can smash to smithereens all the heavenly demons externalists, and ghosts. No
matter what kind of demon they are, they all submit and are tamed when you use
this wheel and perform this dharma. They bow to you and say, “I will reverently
follow the rules. I won’t ever break the rules again.” They surrender.
Not only can the Vajra Wheel destroy demons, but it also has a
roaring sound. In Taoism they speak of “five thunders which strike your head.”
Thunder usually comes from the sky, but the Taoist Masters can
shoot thunder from the palm of their hand. The peal of thunder will freeze the
heavenly demons in their tracks and even blow the skin right off their bodies.
I lectured on The Shurangama Sutra I mentioned that I had a
friend who could do this. When you have cultivated this Hand and Eye
successfully, thunder will sound when you practice this dharma and will conquer
all the hateful demonds.
ASTAYA means
“incomparable accomplishment.” Nothing compares with the great merits and
virtue of this accomplishment, and therefore it can conquer all the hateful
demons.
68.
Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ
Giả kiết ra a tất đà dạ. Hán dịch là “Kim cang luân”. Còn gọi là Kim cang Bạt chiết la. Kim cang luân này có hình tròn nhưng có khác so với Kim cang luân khác. Câu chú này còn có nghĩa là “Hàng phục oán ma”.
Khi trong tâm luôn luôn sinh khởi xung khí và bất bình thì gọi là ma. Khi ấy họ thường phê phán mọi điều. Họ nói “Chư Phật thường làm những việc sai trái, cho đến hành Bồ tát, A la hán, chư Thiên, Diêm Vương cũng đều như thế”. Họ phản đối kịch liệt và hằn học đối với tất cả mọi điều. “Tất cả đều là tà vạy”.
Họ giống như kẻ cuồng si, chẳng để ý gì đến pháp luật nữa. Họ luôn xung khắc với toàn cả thế gian. Trong nhân gian gọi loại người này là điên cuồng. Trong hàng quỷ thần thì hạng người này được gọi là Ma.
Nộ khí của loài ma oán này thường xông khắp cõi Trời. Nó thường giận dữ: Ai cũng đều quá vô lễ với ta!”. Hoặc nó nói: “Phật hả? Ta sẽ đánh bại ngay. Bồ tát hay A la hán ta cũng hạ gục luôn. Còn loài người, ta sẽ ăn thịt hết. Ma quỷ thì ta sẽ chà nát dưới gót chân. Ta sẽ xé nát thân chúng ra cho đến chết!” Oán khí loại ma này thật ghê rợn.
Đây là Bạt chiết la thủ nhã ấn pháp. Với Kim cang luân, hành giả có thể đập tan các loài thiên ma ngoại đạo, quỷ thần thành từng mảnh vụn. Bất luận đó là loại ma nào, nó đều bị thu phục và vâng lời khi hành giả dùng Kim cang luân để thi hành ấn pháp này. Ma oán sẽ cung kính đảnh lễ hành giả và thưa: “Con nguyện quy phục ấn pháp. Nguyện theo mọi quy luật, không dám xâm hủy”.
Kim cang luân ấn pháp không những chỉ có công năng hàng phục thiên ma ngoại đạo, mà còn có công năng phát ra âm thanh chấn động. Đạo giáo gọi âm thanh này là “Ngũ Lôi Oanh Đảnh”.
Sấm sét vốn thường phát sinh từ trên Trời, nhưng các Đạo sĩ Lão giáo có thể phóng ra tiếng sấm từ lòng bàn tay khi họ kết một loại ấn gọi là Chưởng tâm lôi. Tiếng sấm sét vang ra khiến cho thiên ma bị chấn động, thậm chí còn có thể khiến thịt da nó bị tan tành từng mảnh.
Khi giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi có nói về một người bạn thân, có khả năng sử dụng được ấn pháp này. Khi quý vị hành trì thành tựu ấn pháp này rồi, thì sấm sét sẽ vang rền khi quý vị sử dụng ấn pháp và tiếng vang của nó sẽ hàng phục được tất cả các loài ma oán.
A
tất đà dạ. Hán dịch là “Vô tỷ thành tựu”. Hành giả trì chú này sẽ được thành tựu
công đức rất lớn; không có gì so sánh được, cho nên mới khiến cho các loài ma
oán đều quy đầu phục thiện.
69. SVAHA
In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings, and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.
Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.” If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have accomplishment.
Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.” When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve, whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well, you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response. Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,” and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good friend, even a Good Knowing Advisor.
The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana-- when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and Bodhisattvas can know your virtuous practice.
“ELIMINATING DISASTERS” is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.
“AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is especially beneficial.
I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.-- Why doesn’t anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.
When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.
Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.
69. Ta-bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “Thành-tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tín. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “Viên-tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”. Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm Vô-trụ là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là Vô-trụ.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí huệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí huệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là 6 nghĩa của Ta bà ha.
1. Thành-tựu
2. Cát-tường
3. Viên-tịch
4. Tức-tai
5. Tăng-ích
6. Vô-trụ
Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
68. GIẢ KIẾT RA A TẤT ÐÀ DẠ
SẤC CỜ-RA, ÁT-TAY-DA.
(CHAKRA ASTAYA)
Bổn-thân ngài Kiếu-Hám Thần-tướng.
His physical body in Samadhi, he appears throughout the universe.
Seeing his form, hearing his name, frees us from the hells.
Fathoming life’s one great matter, we have made it across.
Thus all of us are personally gathered in by the Enlightened King.
Sắc-thân-tam-muội Hiện tam thiên
Kiến tướng Văn danh thoát-vô-gián
Liễu sanh Đại pháp Đăng bỉ ngạn
Hàm mông Nhiếp thọ Giác vương tiền.
Bổn-thân ngài Kiếu-Hám Thần-tướng, đấng thành tựu không sánh ví như Kim-cang-luân, hiện Bạt-chiết-la-thủ-nhãn.
69. TA BÀ HA
SÓA HA.
(SVAHA)
Chư Thiên-ma-vương.
Đây là chư Thiên-ma-vương tay cầm cây xà thương.
Cultivators of the Way, do not cheat yourselves.
It won’t work to plug your ears while stealing a bell.
Barren blossoms cannot bear real fruit.
What a shame to leave precious time pass by vain!
Tu đạo Hành giả Mạc tự khi
Yểm nhĩ Đạo linh Thậm bất nghi
Khai hoa Nan kết Chơn thật quả
Quang âm Không quá Thái-khả-tích.
Chư Thiên-ma-vương, hiện Bạt-chiết-la-thủ-nhãn khiến mau Thành-tựu.




Comments
Post a Comment