The Mantra: Syi two ye. Swo pe he.
Mwo he syi two ye. Swo pe he.
The verse:
Ma
Ha Tất Đà Dạ[55] Ta Bà Ha[56]
Chơn-ngôn rằng: Án-- a hạ ra, tát ra phạ ni,
nể dã đà ra, bố nể đế, tát-phạ hạ.
Kệ tụng:
Đa văn đệ nhất thuộc A Nan
Quảng học thiện ký Khổng Nhan Uyên
Độc tụng đại thừa thâm bát nhã
Trí huệ thao thao như dũng tuyền.
[
Đứng đầu ĐA VĂN học rộng
là A Nan.
Học
rộng NHỚ LÂU, có Khổng Tử và Nhan Uyên.
Thâm
nhập BÁT NHÃ nhờ đọc tụng KINH ĐẠI THỪA THỦ LĂNG NGHIÊM,
Cho
nên, TRÍ HUỆ VÔ NGẠI như dòng suối vọt
lên không ngừng.
]
Nếu
QÚY VỊ trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp nầy thành tựu, thì được ĐA VĂN như tôn
giả A nan, trong TÂM có khả năng tụng
lại TAM TẠNG KINH ĐIỂN của phật THÍCH CA trong một đời thuyết pháp, còn về thế
gian thì có thể học rộng NHỚ LÂU như Khổng tử, như Nhan uyên vậy.
Lại nữa, thường trì thủ nhãn nầy thì KHAI
MỞ TRÍ HUỆ VÔ NGẠI, như dòng suối vọt lên tuôn chảy mãi không ngừng,
cũng như NGƯỜI thường đọc tụng KINH ĐẠI THỪA “Ðại Phật Ðảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư
Bồ tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh” vậy. Vì đây là BẢO KINH KHAI MỞ TRÍ HUỆ
trong PHẬT GIÁO.
Nhưng tại sao KINH THỦ LĂNG NGHIÊM là
BẢO
KINH KHAI MỞ TRÍ HUỆ trong PHẬT GIÁO?
Vì KINH nầy PHẬT dạy chúng ta phân biệt được VỌNG TÂM, CHƠN
TÂM và con đường chơn chánh vào CHƠN TÂM THƯỜNG TRỤ không sanh
không diệt, đó là NHĨ CĂN VIÊN THÔNG của bồ tát
QUÁN THẾ ÂM là đệ nhất.
Tuy biết con đường CHƠN THẬT chứng nhập CHƠN TÂM, nhưng trải qua các địa vị tu
chứng gặp phải 50 loại ma chướng cùng với tập khí nhiều đời khó đoạn
trừ, nếu MÊ MỜ CHƠN TÁNH, tự nghĩ rằng mình đã CHỨNG THÁNH, THÀNH
PHẬT thì sẽ đi vào TÀ MA NGOẠI ĐẠO, khó CÓ NGÀY quây đầu trở lại theo
CON ĐƯỜNG CHƠN THẬT.
Cho nên, PHẬT dạy phải trì CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM, thì không bị những TẬP
KHÍ NHIỀU ĐỜI cùng MA CHƯỚNG đến phá HOẠI CON ĐƯỜNG CHƠN THẬT THẲNG đến qủa
DIỆU GIÁC của Phật.
A
NAN CẦU XIN PHẬT TUYÊN NÓI LẠI
CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM
Tại
sao ngài A NAN cầu xin PHẬT tuyên nói lại CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM? Vì chú nầy khiến
cho NGÀI A NAN được giải thoát khỏi TÀ THUẬT của PHẠM THIÊN và cũng để cứu giúp
cho những người HIỆN ĐỜI cùng với người ĐỜI SAU, được nhờ MẬT ÂM của PHẬT, mà
THÂN TÂM có thể AN NHẪN các CHƯỚNG DUYÊN, thẳng tắc trên con đường BỒ ĐỀ của
chư PHẬT, nhưng NGÀI A NAN chưa được nghe.
Có
lẽ, NGÀI VĂN THÙ chỉ đọc trong TÂM, không ra tiếng,nên cực kỳ nhanh, chỉ trong
KHỞI TÂM ĐỘNG NIỆM thì xong. Hoặc NGÀI VĂN THÙ tuy có đọc ra tiếng, nhưng bấy
giờ TÂM NGÀI A NAN BỊ MÊ MỜ vì bị TÀ THUẬT của PHẠM THIÊN, cho nên
không còn HUỆ ĐA VĂN nữa.
Cũng có thể, ngài VĂN THÙ chỉ đọc “NGŨ ĐẠI TÂM CHÚ”, để phá TÀ THUẬT
mà thôi, cho nên ngài A nan không được nghe toàn bộ CHÚ LĂNG NGHIÊM chăng? Cho
nên, mới cầu PHẬT tuyên nói lại chăng?
Kệ tụng:
Cửa rồng tăm cá vượt
Đỉnh nhạn bóng chim qua
Khách đi nghìn dặm biệt sơn hà
Đường tu gian khổ
Chướng ngại trải hằng-sa
Nghịch thuận duyên ma-khảo
Thương ghét nợ oan-gia
Khá thương kham nhẫn cõi Ta-Bà
Khổ vui bao quản
Vinh nhục tợ sương hoa
Nhẫn nại bền lòng tinh tiến mãi
Ác vàng thỏ bạc
Năm tháng sẽ dần dà...
Chú Thủ Lăng Nghiêm phân làm năm bộ, biểu thị cho năm phương: Đông, Nam, Trung Ương, Tây và Bắc.
1. Đông phương là Kim-cang bộ, do đức Phật A Súc là Bộ chủ.
2. Nam phương là Bảo-sanh bộ, do đức Phật Bảo sanh là Bộ chủ.
3. Trung ương là Phật bộ, do đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Bộ chủ.
4. Tây phương là Liên-hoa bộ, do đức Phật A Di Đà là Bộ chủ,
5. Bắc phương là Yết-Ma bộ, do đức Phật Thành Tựu là Bộ chủ.
Nhân vì trên thế giới có năm đại ma quân, nên có năm phương Phật ngăn chặn, chấn áp. Trong năm bộ của CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM, nhìn chung có hơn 30 pháp, nếu giảng rộng ắt có hơn trăm pháp. Nhưng có năm loại pháp chánh yếu như sau:
Đây là vì “Ngũ đại tâm chú”
104. Sất đà nể
105. A ca ra
106. Mật rị trụ
107. Bát rị đát ra da
108. Nảnh yết rị
Năm câu trên là “Ngũ đại tâm chú”. TÂM CHÚ này khi sử dụng thì mọi chú thuật của bọn TÀ MA NGOẠI ĐẠO đều ra vô hiệu. Nếu quý vị có lòng thành tôi sẽ truyền cho quý vị, hoàn toàn miễn phí.
Đây là pháp Tức tai. Khi có một sự cố gì xảy ra, nó có thể hóa lớn thành nhỏ, và
hóa nhỏ thành không có tai nạn gì cả. Thường, khi có sự cố xảy ra, qúi vị không bị nguy hiểm”, vì quý vị thường trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm.
Lợi ích của chú rất lớn, cho dù TÔI có bỏ ra vài năm để giảng giải cũng không hết. Ở đây, tôi chỉ nói lược qua 5 PHÁP mà thôi.
NGŨ ĐẠI TÂM CHÚ mà TÔI đã nói qua là Biểu thị cho NĂM PHƯƠNG, NĂM BỘ và NĂM VỊ PHẬT. Quý vị không nên xem thường. Chú nầy là của chư Phật trong năm phương, có công năng hủy diệt mọi chú trớ của các loài ma quỷ. Khi quý vị trì tụng chú Lăng Nghiêm, thì quý vị sẽ được chánh định. Tất cả mọi chú trớ, mọi chú thuật của Thiên ma cùng quyến thuộc đều không thể gây hại cho quý vị. YỂM CỔ là một loài phù chú ở khu vực Đông Nam Trung Quốc, hoặc Đông Nam Châu Á như Miến Điện, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia và các nơi khác. Phù chú sử dụng gọi là “Cổ”, làm cho mê hoặc người là công năng của chú thuật nầy. Nếu quý vị ăn phải loài Cổ-độc đó, thì hoàn toàn bị lệ thuộc vào họ, phải làm theo những gì họ sai khiến, nếu chống lại thì sẽ bị chết.
Ở Australia, trong các vùng núi, có TÔN GIÁO đã dùng chú thuật thu nhỏ đầu người nhỏ lại như một quả trứng, và trưng bày như là một biểu tượng cho uy lực. Trong thế giới mênh mông này có rất nhiều sự việc siêu nhiên. Quý vị đừng cho rằng mình không thấy thì dứt khoát không tin là có sự thực. Nếu ai đó không tin thì thực là ngu ngốc! Tại sao tôi lại nói như vậy? Có nhiều sự việc quý vị không bao giờ nhìn thấy được, còn như muốn tìm hiểu, chứng kiến tận mắt rồi mới tin thì e là đến cuối cuộc đời cũng không biết được.
Cũng như nước Mỹ , thời xưa không ai biết được, nếu như quý vị gặp ai đó và cố gắng giải thích rằng có một lục địa khác, cũng có núi có sông, có cư dân, thì chắc chắn họ sẽ không tin. Thế nhưng, cho dù họ có tin hay không tin thì nước Mỹ vẫn hiện hữu ở nơi xa xôi kia.
Cũng vậy, nếu quý vị không tin vào những chuyện lạ là vì cho là vô lý, nhưng thực sự không phải vậy. Chúng ta thường phủ nhận những gì mình không chứng kiến, căn bản là vì quý vị không nhận thức rõ về sự thực thế giới này.
Một người bị YỂM CỔ làm hại thì khó lòng thoát khỏi, còn như chống lại ắt sẽ bị chết. Nhưng Sự độc hại của YỂM CỔ cùng với thuốc độc, kim độc, ngân độc, những độc khí của vạn vật như cỏ, cây, sâu, rắn, vào miệng của người TRÌ CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM thì sẽ BIẾN THÀNH VỊ CAM LỘ.
Nếu quý vị đề nghị với Tôi là QÚY VỊ muốn thử nghiệm điều ấy, thì cũng được thôi. Nhưng phải đợi khi nào quý vị trì CHÚ LĂNG NGHIÊM có THÀNH TỰU, thì thể thử nghiệm; còn như chưa THÀNH TỰU thì không nên làm.
Ta thấy KINH THỦ LĂNG NGHIÊM dạy, cho dù QÚY VỊ
tu theo HIỂN GIÁO hay là MẬT GIÁO gì cũng được VIÊN THÔNG VÔ NGẠI, cho nên có
thể gọi “BẢO KINH” nầy là:
“
HIỂN MẬT VIÊN THÔNG THÀNH PHẬT TÂM ẤN” cũng được.
Tóm lại, nếu qúy vị thường trì tụng BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP thì
cũng như NGƯỜI thường trì tụng bộ KINH THỦ LĂNG NGHIÊM, tức là KINH “ HIỂN MẬT VIÊN THÔNG THÀNH PHẬT TÂM ẤN”,
thì sẽ rõ biết con đường chơn thật tu hành từ khi mới phát tâm cho
đến khi thành tựu QỦA DIỆU GIÁC của CHƯ PHẬT như trong lòng bàn tay
vậy.
CHO NÊN, DÙ CHO QÚY VỊ TU THEO PHÁP MÔN NÀO CŨNG ĐỀU ĐƯỢC VIÊN THÔNG VÔ NGẠI.
TẠI SAO VẬY ? VÌ ĐỀU DÙNG “TRÍ KIM CANG” KHÔNG SANH CŨNG KHÔNG DIỆT MÀ KHỞI TU,
NÊN ĐƯỢC TỰ TẠI.
TRÍ KIM CANG là: “NHẬP ĐẠO YẾU MÔN, QUÁN LÝ NHƯ
HUYỄN.” THÌ SẼ TU CHỨNG TỪNG PHẦN CHO ĐẾN QỦA DIỆU GIÁC CỦA
CHƯ PHẬT. (Kinh Lăng Nghiêm)
Kệ tụng:
Đa văn đệ nhất thuộc A Nan
Quảng học thiện ký Khổng Nhan Uyên
Độc tụng đại thừa thâm bát nhã
Trí huệ thao thao như dũng tuyền.
Ma Ha Tất Đà Dạ[55] Ta Bà Ha[56]
53) Tất Đà Dạ
Theo trong KINH ĐẠI BI
TÂM ĐÀ RA NI “XUẤT TƯỢNG” nói rằng : “Khi Qúi vị trì tụng câu
chú Tất Đà Dạ, thì Bồ tát XÁ LỢI PHẤT sẽ “XUẤT HIỆN” , NGÀI thường
trì tụng “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, giúp cho Qúy vị “THÔNG
ĐẠT TẤT CẢ PHÁP MÔM”.
Cho nên, “QÚY
VỊ” tu pháp nào cũng được “VIÊN THÔNG VÔ NGẠI”, làm việc gì cũng được
“SỰ KIẾT TƯỜNG NHƯ Ý”.
BỒN THÂN NGÀI XÁ LỢI PHẤT BỒ TÁT
( Thường TRÌ “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN
PHÁP”, để giúp cho Qúi vị “THÔNG ĐẠT TẤT CẢ PHÁP MÔM”, làm
việc gì cũng được “SỰ KIẾT TƯỜNG NHƯ Ý”.
Và ngược lại nếu “QÚI VỊ” Thường TRÌ “BẢO KINH
THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Qúi vị là “HÓA THÂN” của Bồ
tát XÁ LỢI PHẤT, nghĩa là cũng đạt được như Ngài vậy.)
Còn theo “KỆ
TỤNG” thì khi TRÌ TỤNG “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Bồ tát
XÁ LỢI PHẤT sẽ “XUẤT HIỆN” với THÂN TƯỚNG TRANG NGHIÊM, để
cứu độ cho chúng sanh hữu duyên được sanh về cõi “THƯỜNG TỊCH QUANG” của CHƯ
PHẬT, vì cùng “CHƯ PHẬT” ở chung một chổ, cho nên thông đạt
tất cả các pháp môn, rồi trở lại “TA BÀ” độ tất cả kẻ thân
người oán đồng được vãng sanh, đồng thành PHẬT ĐẠO.
Kệ tụng :
Mỹ diệu
tướng hảo trang nghiêm thân
Thông
đạt nhất thiết chư pháp môn
Phổ độ
hữu duyên sanh Cực Lạc
Thường
Tịch Quang độ chơn hựu chơn
54) Ta Bà Ha
Theo trong KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA
NI “XUẤT TƯỢNG” nói rằng : “Khi Qúi vị trì tụng câu chú Ta Bà Ha, thì Bồ tát HẰNG HÀ SA sẽ “XUẤT HIỆN” đứng
trên đầu “CÁ NGAO” (HÌNH GIỐNG NHƯ CON RỒNG) DẠO TRONG BIỂN PHÁP VÔ
BIÊN, giúp cho Qúi vị MAU CHÓNG TRỌN VẸN “TÂM” VẮNG LẶNG.
BỔN THÂN NGÀI HẰNG HÀ SA BỒ TÁT
( Thường TRÌ “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, để giúp cho
Qúi vị MAU CHÓNG TRỌN VẸN “TÂM” VẮNG LẶNG.
Và ngược lại nếu “QÚI VỊ” Thường TRÌ “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN
PHÁP”, thì Qúi vị là “HÓA THÂN” của Bồ tát HẰNG HÀ SA , nghĩa là cũng đạt được như Ngài vậy.)
Còn theo “KỆ TỤNG” thì khi TRÌ TỤNG “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì “HÓA THÂN” của
Bồ tát HẰNG HÀ SA sẽ “XUẤT HIỆN” nhiều như SỐ CÁT SÔNG HẰNG, đứng SỪNG
SỮNG THẲNG CAO trên đầu “CÁ NGAO” (HÌNH GIỐNG NHƯ CON RỒNG), CƯỜI
VUI VẺ VÀO TRONG BIỂN “SÂU
RỘNG” KHÔNG THỂ ĐO
LƯỜNG, ĐỂ CỨU ĐỘ CHÚNG SANH LÌA (LY) NGÃ CHẤP CÙNG PHÁP CHẤP.
Kệ tụng :
“Hằng HÀ SA” số chư Bồ
tát
Tủng lập ngao đầu tiếu
ha ha
Pháp hải uông dương vô
bất độ
Chúng sanh dữ ngã ly
tự tha
55) Ma Ha Tất Đà Dạ
Theo trong KINH ĐẠI BI
TÂM ĐÀ RA NI “XUẤT TƯỢNG” nói rằng : “Khi Qúy vị trì tụng câu
chú Ma Ha Tất Đà Dạ, thì Bồ tát PHÓNG QUANG sẽ
“XUẤT HIỆN” Tay cầm cây “PHƯỚN ĐỎ”.
Đây là đấng đã thành
tựu “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, giúp cho Qúy vị MAU ĐẠT ĐƯỢC “ĐỦ MỌI
PHÁP” MỘT CÁCH RỘNG LỚN”.
BỔN THÂN NGÀI PHÓNG QUANG BỒ TÁT
( Thường TRÌ “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP” ,
để giúp cho Qúy vị MAU ĐẠT ĐƯỢC “ĐỦ MỌI PHÁP” MỘT
CÁCH RỘNG LỚN”.
Và ngược lại nếu “QÚY VỊ” Thường TRÌ “BẢO KINH
THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Qúy vị là “HÓA THÂN” của Bồ tát PHÓNG
QUANG, nghĩa là cũng đạt được như
Ngài vậy.)
Còn theo “KỆ
TỤNG” thì khi TRÌ TỤNG “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Bồ tát
PHÓNG QUANG sẽ “XUẤT HIỆN”, Ngài dùng “QUANG MINH” CHIẾU
KHẮP THẾ GIAN, LÀM CHO 4 LOẠI CHÚNG SANH “NOÃN, THAI, THẤP, HÓA”…ĐỀU
ĐƯỢC NO ĐỦ LÌA ĐƯỢC NẠN ĐÓI KHÁT “NHƯ BỊ TREO NGƯỢC” KHÔNG ĂN
MÓN GÌ ĐƯỢC, CŨNG NHƯ CHÚNG SANH Ở “NGẠ QUỶ” VẬY.
CHÚNG SANH TRONG 9
PHÁP GIỚI TRÌ THỦ NHÃN NẦY, THÌ THÀNH “CHÁNH GIÁC”, THÌ ĐƯỢC “THƯỜNG,
LẠC, NGÃ, TỊNH” NHƯ CHƯ PHẬT VẬY.
Kệ tụng :
“PHÓNG” đại “QUANG”
minh chiếu thế gian
Thai noãn thấp hóa ly
đảo huyền
Cửu giới chúng sanh
thành chánh giác
Thường lạc ngã tịnh
phẩm tự cao
56) Ta Bà Ha
Theo trong KINH ĐẠI BI
TÂM ĐÀ RA NI “XUẤT TƯỢNG” nói rằng : “Khi Qúy vị trì tụng câu
chú Ta Bà Ha, thì Bồ tát MỤC KIỀN LIÊN sẽ “XUẤT HIỆN” với Tay cầm
cây “TÍCH TRƯỢNG” quảy áo “CÀ SA”.
Đây là đấng đã thành
tựu “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, giúp cho Qúy vị “DIỆT TRỪ TẤT CẢ TAI
NẠN”.
BỔN THÂN NGÀI MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT
( Thường TRÌ “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN
PHÁP”, giúp cho Qúy vị “DIỆT TRỪ TẤT CẢ TAI NẠN”.
Và ngược lại nếu “QÚY VỊ” Thường TRÌ “BẢO KINH
THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Qúy vị là “HÓA THÂN” của Bồ tát MỤC
KIỀN LIÊN, nghĩa là cũng đạt được như
Ngài vậy.)
Còn theo “KỆ
TỤNG” thì khi TRÌ TỤNG “BẢO KINH THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, thì Bồ tát
MỤC KIỀN LIÊN sẽ “XUẤT HIỆN”.
Đây là đấng rất HY HỮU
có “THẦN THÔNG BIẾN HÓA” đệ nhất, thường dùng cây “TÍCH
TRƯỢNG” vào trong ĐỊA NGỤC làm cho CHÚNG SANH LY KHỔ PHÁT “BỒ ĐỀ TÂM”.
Cho nên, chúng sanh
trong “ĐỊA NGỤC” đều chịu “ƠN SÂU” của ngài.
Theo HT.TUYÊN HÓA
trong “Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Thiển Thích” thì Tôn Giả Ma Ha Mục Kiền Liên chính là ĐỊA TẠNG BỒ TÁT.
Kệ tụng :
Thần thông biến hóa
thuộc đệ nhất
Kim tích trượng cứu
thế gian hy
Địa ngục chúng sanh
mông ân thọ
Ly chư chướng nạn phát
bồ đề
KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI “XUẤT TƯỢNG”
HT. THIỀN TÂM Dịch ra VIỆT VĂN
KỆ TỤNG
HT. TUYÊN HÓA Kệ tụng
53. Tất đà da
54. Ta bà ha
55. Ma ha tất đà da
56. Ta bà ha
Chữ Tất đà da có năm nghĩa: Thứ nhất là “Thành tựu đốn kiết”.
Thứ hai là “thành biện”. Thứ ba là “thành lợi”.Thứ tư là “nhất thiết nghĩa
thành tựu” và thứ năm là “sở cung xưng tán”.
Thành tựu đốn kiết nghĩa là khi sử dụng thần chú này, thì mọi sở
cầu, sở nguyện của hành giả liền tức khắc (đốn) được an lành (kiết), toại
nguyện.
Có người hỏi: “Tại sao tôi cũng trì chú Đại Bi, mà không được
toại nguyện tức thì”? Vì sự trì niệm chú Đại Bi đòi hỏi phải có sự tương ứng từ
nỗ lực dụng công. Nếu không có sự nỗ lực hành trì tương ứng, thì sẽ không có sự
thành tựu. Nếu có sự cảm ứng, dung thông thì mọi sở cầu, sở nguyện của hành giả
đều được thành tựu.
Tất đà dạ còn có nghĩa là “thành biện”. Nghĩa là hành giả làm
bất cứ việc gì thì kết quả đều đạt được viên mãn.
Cũng gọi là “thành lợi” là vì mọi việc làm đều được thành tựu
lợi ích.
Nhất thiết nghĩa thành tựu có nghĩa là làm bất kỳ việc gì cũng
đều được thành tựu.
Sở cung xưng tán có nghĩa là mọi người đều đến khen ngợi, cung
kính tán dương công đức của hành giả.
Ma ha tất đà dạ. Ai cũng đều biết Ma ha có nghĩa là lớn. Câu chú
này có nghĩa là hành giả đạt được mọi sự nghiệp to lớn, thành tựu được công đức
thù thắng và đạo nghiệp viên mãn. Trong mọi việc, hành giả đều đạt được sự
thành tựu viên mãn cao tột.
Cả hai câu chú hợp lại Tất đà dạ ta bà ha Ma ha tất đà dạ ta bà
ha là Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp. Bảo Kinh là sự quý giá vô ngàn của Kinh điển,
chính là Pháp bảo. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì sẽ đạt được lợi lạc vô
cùng vô tận. Trong tương lai, trí tuệ và sức ghi nhớ của quý vị sẽ rất tinh
anh. Nghĩa là có được khả năng “bác văn cường ký” – nghe nhiều, nhớ kỹ.
Ký ức của chúng ta thường hoạt động theo một lối riêng. Cũng như
không thể nào đi nếu không có cây gậy. Sau khi đọc được điều gì, chúng ta không
thể nhớ rõ ràng hết được. Chỉ khi nào cần cho sự học tập của mình, chúng ta mới
lục lại tìm kiếm hay tra cứu lại những ghi chép. Tại sao trí nhớ của mình lại
quá kém.
Vì quý vị chưa từng hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp này.
Nếu quý vị hành trì ấn pháp này, quý vị sẽ đạt được sự hiểu biết thông tuệ và
kiến thức rất đa dạng. Giống như Tôn giả A Nan, là đệ tử đa văn đệ nhất của đức
Phật. Có thể nói Ngài A Nan đã hành trì Bảo kinh ấn pháp mà chẳng nghi ngờ gì.
Ngài đã thành tựu ấn pháp này từ vô lượng kiếp rồi, nên khi nghe được điều gì,
thì không còn quên nữa. Ngay cả Ngài có thể nhớ được những điều Ngài chưa từng
nghe. Tại sao tôi nói như vậy?
Vì Tôn giả A Nan ra đời cùng ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành
đạo. Như thế nên hai mươi năm trước, khi A Nan chưa xuất gia, thì những bài
thuyết pháp của đức Phật Ngài A Nan chưa được nghe. Thế thì làm sao A Nan có
thể kết tập toàn bộ Kinh điển sau khi đức Phật nhập Niết bàn?
Vì A Nan được nghe các vị trưởng lão giảng lại những bài Kinh mà
đức Phật đã thuyết từ trước, hoặc chính do đức Phật giảng lại cho A Nan nghe
khi A Nan nhập định nên A Nan thừa biết rõ nguyên nhân của sự nhớ giỏi này là
nhờ đã hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp thành tựu.
Có người hỏi tôi: “Làm thế nào để có được trí nhớ tốt?” Câu trả
lời đơn giản là hãy hành trì Bảo kinh ấn pháp. Những người nhớ được Kinh rõ
ràng là có duyên với ấn pháp này.
Ở trong đồ hình mạn đà la, đây là ấn pháp Bồ tát phóng quang.
Ngài phóng ra hào quang và tay cầm một tràng phan màu đỏ. Toàn thân Bồ tát
phóng ra những luồng hào quang sáng chói biểu tượng cho sự khai mở trí tuệ, sự
cường ký, trí lực đa văn quảng kiến và công đức thành tựu viên mãn.
ĐẠI BI
CHÚ
Tác
giả: Hòa thượng Tuyên Hóa
Bản
dịch của THÍCH NHUẬN CHÂU
CÚ GIẢI
(Giảng giải từng câu)

Comments
Post a Comment