25. The Red Lotus Hand
and Eye
The Sutra says: “For
rebirth in all heavenly palaces, use the
Red Lotus
Hand.”
The Mantra: Bwo two mwo
jye syi two ye.
The True words: Nan.
Shang jye li. Sa wa he.
The verse:
The
joys of the heavens surpass those of humankind.
Between
the vow for heavenly birth and its fulfillment lie many difficulties.
But
only maintain this Red Lotus Hand,
And
you’ll be reborn there in a finger-snap, without waiting around.
25.
Hồng-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn được sanh lên các
cung trời, nên
cầu nơi Tay cầm Hoa-Sen-Hồng.”
Thần-chú
rằng: Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ [70]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- thương yết lệ, tát-phạ hạ.
Kệ
tụng:
Chư thiên
khoái lạc thắng nhơn gian
Phát nguyện
vãng sanh đa trở nan
Đản tự thủ
trì hồng liên hoa
Đàn chỉ vãng
sanh phi đẳng gián.
(Khoái lạc Cõi TRỜI hơn nhơn gian,
Muốn được
sanh về thật gian nan.
“HỒNG LIÊN
HOA THỦ” thường trì niệm,
Khoảng tay
co duỗi được sanh về.)
Được
thân “NGƯỜI” thì rất khó và ít, còn đọa
xuống “TỨ ÁC THÚ” thì rất dễ và nhiều, như được thân NGƯỜI mà gặp “PHẬT RA ĐỜI”
còn khó gấp muôn phần. Gặp “PHẬT RA ĐỜI ĐÃ KHÓ”, như gặp được “HỒNG LIÊN HOA THỦ”
để tu trì còn khó gấp vô lượng phần.
Bởi
vì sao? Vì nếu “Qúy-vị” thường trì niệm “HỒNG LIÊN HOA THỦ”, thì khi xả báo
thân, trong khoảng khảy móng tay, liền được sanh làm TRỜI, NGƯỜI.
Nếu
làm NGƯỜI thì không lạc vào “TÀ ĐẠO”
Nếu
làm TRỜI thì không lạc vào “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Như Tỷ-khưu Vô Văn , đã đạt được Tứ thiền, vọng ngôn cho rằng mình đã chứng
Thánh. Khi phước báo ở cõi trời hết, tướng suy xuất hiện, nên phỉ báng rằng chứng
quả A La Hán còn phải chịu sanh tử. Ông liền đọa vào địa ngục A-tỳ.”
Lại
nữa, sanh lên CÁC CÕI TRỜI vô cùng khoái
lạc rất khó tu hành, lại rất dẽ lạc đường như sanh về “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi
trời “VÔ SẮC GIỚI”.
VÔ
SẮC GIỚI
Lại
nữa A Nan! Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường:
(TÀ
CHÁNH KHÓ PHÂN)
THỨ
NHẤT
Nếu
nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông, bèn ra cõi trần, thành A
La Hán, vào Bồ Tát Thừa, hạng này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
THỨ
HAI
“BỐN
CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.
1) Không Xứ
Nếu
nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không, hạng này
gọi là Không Xứ.
2) Thức Xứ
Chướng
ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế
của Mạt Na Thức; hạng này gọi là Thức Xứ.
3) Vô Sở Hữu Xứ
Sắc
và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng
này gọi là Vô Sở Hữu Xứ.
4) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Dùng
tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày
tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng Xứ.
Hạng
này xét cùng cái Không, nhưng chẳng tột lý Không; nếu từ thánh đạo Bất Hoàn
Thiên mà xét cùng, hạng này gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán.
Nếu
từ Vô Tưởng Thiên của ngoại đạo mà chấp thật Không, chẳng biết quày đầu, mê muội
hữu lậu, chẳng nghe chánh pháp, bèn vào luân hồi.
A
Nan! Những cõi trời kể trên, mỗi mỗi đều là phàm phu đền trả nghiệp quả, khi
nghiệp quả trả hết bèn vào luân hồi. Thiên Vương các cõi ấy, đều là Bồ Tát tu
Tam Ma Địa, lần lượt tiến lên, hướng về đường tu của Bậc Thánh.
A
Nan! Cõi Tứ Không này, thân tâm dứt sạch, tánh định hiện tiền, chẳng có sắc
thân của nghiệp quả; từ đây đến cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
Ấy
đều do chẳng rõ diệu tâm sáng tỏ, tích chứa vọng tưởng, chấp thân trung ấm, tùy
loại thọ sanh, vọng có tam giới, nên vọng theo bảy loài mà chìm đắm.
(KINH LĂNG NGHIÊM)
Kệ tụng:
Khoát
đạt không, bát nhân quả,
Mảng
mảng đãng đãng chiêu ương họa.
Khí
hữu trước không bệnh diệc nhiên,
Hoàn như tỵ nịch nhi đầu hỏa.
(Chứng Ðạo Ca)
(Nói tất cả
PHÁP đều không, không có NHÂN cũng không có QỦA,
Buông lung
phóng đãng, mang tai họa.
CHẤP NGOAN
KHÔNG, BÁT NHÂN QỦA đây là hầm khổ đọa,
Cũng như một
người tránh nạn chết chìm, lại bị chết vì lửa.)
Tóm
lại, nếu “Qúy-vị” thường trì niệm “HỒNG LIÊN HOA THỦ”, thì khi xả báo thân,
trong khoảng khảy móng tay, liền được sanh làm TRỜI, NGƯỜI.
Nếu
làm NGƯỜI thì không lạc vào “TÀ ĐẠO”
Nếu
làm TRỜI thì không lạc vào “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.
Đời
đời kiếp kiếp đều được gặp chánh pháp tu hành, cho đến khi thành PHẬT ĐẠO. Cho nên nói : “Gặp PHẬT RA ĐỜI ĐÃ
KHÓ”, như gặp được “HỒNG LIÊN HOA THỦ” để tu trì còn khó gấp vô lượng phần” là
vậy.
Kính
lạy đời quá khứ,
Chánh
Pháp Minh Như Lai.
Chính
là đời hiện nay,
Quán
Thế Âm Bồ Tát,
Bậc
thành công đức diệu,
Đủ
lòng đại từ bi,
Nơi
trong một thân tâm
Hiện
ra ngàn tay mắt
Soi
thấy khắp pháp giới
Hộ
trì các chúng sanh
Khiến
phát lòng đạo sâu
Dạy
trì chú Viên Mãn
Cho
xa lìa đường ác (TỨ ÁC THÚ)
Được
sanh trước Như Lai
Những
tội nặng vô gián
Cùng
bịnh ác lâm thân,
Khó
nỗi cứu vớt được
Cũng
đều khiến tiêu trừ
Các
tam muội, biện tài
Sự
mong cầu hiện tại
Đều
cho được thành tựu
Quyết
định chẳng nghi sai
Khiến
mau được ba thừa
Và
sớm lên quả Phật
Sức
oai thần công đức
Khen
ngợi chẳng hay cùng!
Cho
nên con một lòng
Quy
mạng và đảnh lễ
THIÊN-THỦ
THIÊN-NHÃN
QUÁN-THẾ-ÂM
BỒ-TÁT QUẢNG-ÐẠI VIÊN-MÃN
VÔ NGẠI ĐẠI-BI TÂM ÐÀ-RA-NI
( Đại Bi Sám
Pháp-HT. Thích Thiền-Tâm)
Chư thiên khoái lạc Thắng nhơn gian
Phát nguyện Vãng sanh Đa trở nan
Đản tự thủ trì Hồng-liên-hoa
Đàn chỉ Vãng sanh Phi đẳng gián.
The joys of the heavens surpass those of humankind.
Between the vow for heavenly birth and its fulfillment lie many difficulties.
But only maintain this Red Lotus Hand,
And you’ll be reborn there in a finger-snap, without waiting around.
Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ [70]
Ta-bà ha [71]
Án-- thương yết lệ, tát-phạ hạ.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
70. PADMAKÉSTAYA
PADMA means “red lotus.”
KÉSTAYA means “good victory.”
The Red Lotus is victorious over all and brings about
accomplishment. When you cultivate this Dharma, the Red Lotus Hand and
Eye, then if you want to ascend into the heavens, it’s very easy to
be born in any heaven you wish.
70.
Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ
Bà Đà Ma. Hán dịch là
“Hồng liên hoa”.
Yết Tất Đà Dạ. Hán dịch là
“Thiện trắng”.
Hồng
liên hoa này là siêu việt tất cả mọi loài và thành tựu vô lượng công đức. Khi
quý vị tu tập Hồng liên hoa thủ nhãn ấn
pháp này thành tựu rồi, nếu quý vị muốn sanh ở cõi Trời thì ước nguyện ấy rất
dễ thành tựu như ý.
71. SVAHA
In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings, and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.
Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.” If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have accomplishment.
Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.” When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve, whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well, you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response. Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,” and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good friend, even a Good Knowing Advisor.
The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana-- when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and Bodhisattvas can know your virtuous practice.
“ELIMINATING DISASTERS” is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.
“AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is especially beneficial.
I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.-- Why doesn’t anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.
When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.
Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.
71. Ta-bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “Thành-tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tín. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “Viên-tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”. Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm Vô-trụ là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là Vô-trụ.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí huệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí huệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là 6 nghĩa của Ta bà ha.
1. Thành-tựu
2. Cát-tường
3. Viên-tịch
4. Tức-tai
5. Tăng-ích
6. Vô-trụ
Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
70. BÀ ÐÀ MA YẾT TẤT ÐÀ DẠ
PÁT-MA-KẾT SẤC-TAY-DA.
(PADMAKÉSTAYA)
Ngài Linh-Hương-Thiên Bồ-tát.
Đây là ngài Linh-Hương-Thiên Bồ-tát tay bưng lò hương Như-ý.
Bồ-tát Vô-sự Qua công tác
Tọa bảo Liên hoa Phóng quang minh
Thọ chư Chúng sanh Đại giác ký
Viên mãn Niết bàn Chứng-vô-dư.
Having nothing to do, Bodhisattvas go looking for some work.
As they sit on exquisite lotuses, their brilliant light radiates.
Bestowing predictions of full enlightenment on all beings,
They perfect Nirvana that is certified to be without residue.
71. TA BÀ HA
SÓA HA.
(SVAHA)
Bổn-thân ngài Tán-Hoa-Thiên Bồ-tát.
Thiên-nữ-tán-hoa Cúng hành nhân
Nghiêm trì Giới luật Diệu thông thần
Cánh năng Hồi quang Quán-tự-tại
Bất cửu Đương khế Đại giác tôn.
Heavenly goddesses scatter flowers as offering to practitioners.
Our precepts and Vinaya held strictly, our spiritual powers superb—
If we can then turn our light around and contemplate with ease,
Before long we will tally with the Great Awakening of Honored Ones.
Bổn-thân ngài Tán-Hoa-Thiên Bồ-tát, Hiện Hồng-liên-hoa-thủ-nhãn khiến mau Thành-tựu.




Comments
Post a Comment