23. The Five-colored
Cloud Hand and Eye
The Sutra says: “For the
Way of the immortals, use the Five-
colored
Cloud Hand and Eye.”
The Mantra: Mwo syi mwo
syi.
The True Words: Nan. Wa
dz la. Jye li la ja syin ja.
The verse:
For
the Tao (Way) one seeks immortality and long life,
For
a lifespan as long as the heavens last, neither more nor less.
Just
as you wish, auspiciously, penetrations and changes abound,
With
a lucky cloud of Five-colors underneath your feet.
23. Ngũ-Sắc-Vân Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn được đạo tiên, nên cầu
nơi Tay cầm
hóa hiện Mây-Ngũ-Sắc.”
Thần-chú
rằng: Ma Hê Ma Hê [26]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- phạ nhựt-ra, ca rị ra tra hàm
tra.
Kệ
tụng:
Vị đạo cầu
tiên nguyện trường sinh
Thọ dữ thiên
tề bất giảm tăng
Toại tâm như
ý thông biến hóa
Ngũ sắc tường
vân túc hạ đăng.
( “ĐẠO
TIÊN”, cầu trường sanh thì có, cầu “BẤT TỬ” thì không,
Tưởng rằng
Thọ-mạng sánh bằng “TRỜI ĐẤT”, không tăng không giảm.
Dù có thần
thông biến hóa toại tâm như ý, nhưng vẫn còn ở trong “TAM GIỚI” mà thôi.
Khi Trì NGŨ
SẮC VÂN THỦ NHÃN, thì bỏ được ngã chấp, RA KHỎI TAM GIỚI.)
Trong
KINH LĂNG NGHIÊM có nói: “Có 10 chúng TIÊN, họ tu để được “TRƯỜNG SANH BẤT TỬ”,
như chẳng theo chánh giác tu Tam Ma Địa,
mà tu theo vọng niệm, giữ tâm củng cố hình hài, kiên cố dùng đồ bổ chẳng
ngừng nghỉ, nên thành tựu đạo thực, gọi là Địa
Hành Tiên. [1] .Kiên cố dùng cỏ cây chẳng ngừng nghỉ, nên thành
tựu đạo thuốc, gọi là Phi Hành Tiên.[2] …”
( xin xem
KINH LĂNG NGHIÊN giảng thuật của HT. TUYÊN HÓA
về 10 chúng TIÊN ở phần sau cùng của THỦ NHÃN)
Họ tự cho mình là “TRƯỜNG SANH BẤT TỬ, THỌ MẠNG SÁNH BẰNG TRỜI ĐẤT, KHÔNG TĂNG KHÔNG GIẢM”, nhưng thật ra họ vẫn còn trong vòng LUÂN HỒI SANH TỬ.
Dù họ có “THẦN THÔNG BIẾN HÓA NHƯ Ý”, nhưng cũng chỉ ở trong TAM GIỚI mà thôi, tuổi thọ có hàng VẠN NĂM, nhưng khi hết phước TIÊN, phải chịu đọa lạc trong SANH TỬ.
Vì
vậy, BỒ-TÁT QUÁN-THẾ-ÂM thương sót khởi lòng ĐẠI-BI, dùng “ỨNG THÂN”, “HÓA THÂN”
làm TIÊN để DẠY HỌ TRÌ “NGŨ SẮC VÂN THỦ NHÃN ẤN PHÁP” nầy, để giúp họ THÀNH TỰU TÂM NGUYỆN BAN ĐẦU CỦA
MÌNH.(Thọ dữ thiên tề bất giảm tăng)
Cũng
như Phật Thích Ca tu khổ hạnh không ăn, cho đến chỉ còn xương với da, mà vẫn
không chứng đạo, là để giáo hóa người tu khổ hạnh thời bấy giờ và trong vị lai.
“ỨNG THÂN” thì có lịch sử rõ ràng, như PHẬT
THÍCH CA ứng thân trong cõi TA-BÀ, còn “HÓA
THÂN” thì không có lịch sử, không biết từ đâu đến và đi về đâu, như BỒ-TÁT
QUÁN THẾ- ÂM, hóa hiện vô-lượng thân, vô-lượng hình tướng khác nhau như làm kẽ
ăn xin, bà già, cư-sĩ, Tỷ-khưu…để cứu khổ hoặc khai thị, xong rồi thì không biết
NGÀI đi đâu mất dạng.
Lại
nữa, khi Trì NGŨ SẮC VÂN THỦ NHÃN, thì không còn trụ ở ÂM THANH SẮC TƯỚNG ,
không còn trụ ở TAM TÂM TỨ TƯỚNG vì biết rằng đương thể là không, không cần đợi
có thời gian hoại diệt mới biết là “KHÔNG”, là “HUYỄN”, thì bỏ được ngã chấp,
RA KHỎI TAM GIỚI. Cũng như KINH KIM CANG nói:
Nhược dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ âm thinh
cầu ngã,
Thị nhơn
hành tà đạo,
Bất năng kiến
Như-Lai.
(Nếu dùng sắc-tướng
thấy PHẬT,
Dùng
âm-thanh cầu PHẬT,
Người nầy
hành theo TÀ-KIẾN,
Chẳng thấy
được NHƯ-LAI.)
TAM TÂM là Tâm qúa khứ, Tâm hiện tại, và Tâm vị lai.
TỨ TƯỚNG là Tướng
ngã, Tướng nhơn, Tướng chúng sanh và Tướng thọ giả.
…bất
luận về THÂN hay TÂM trong thế gian cùng xuất thế gian, mà do nhân duyên hòa hợp
làm thành, đều là pháp hữu vi, đều là không thật thể, như mộng, huyễn,
bào, ảnh…
Nhứt thiết hữu-vi
pháp.
Như mộng,
huyễn, bào ảnh.
Như lộ, diệc
như điển,
Ưng tác như
thị quán!
(Tất cả pháp hữu-vi do nhân duyên sanh.
Khác nào huyễn
cảnh, khác nào chiêm bao.
Như trăng dưới
nước, như ảnh trong gương.
Khác nào bọt
nước, hiệp tan khó lường.
Như ánh chớp,
như điểm sương.
Thường hay
Quán xét như vầy, chứng được thật tướng, mới là vô-sanh.)
Kinh
Kim Cang
Pháp-sư
Cưu-ma-la-thập phiên dịch vào thời Diêu Tần
Hòa
Thượng Tuyên Hóa lược giảng
Phần 27: VÔ ĐOẠN VÔ DIỆT
Tu-Bồ-Đề!
Nhữ nhược tác thị niệm, Như-Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A-nậu-đa-la tam miệu
tam bồ-đề. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm:
Như-Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Tu-Bồ-Đề! Nhữ nhược tác thị niệm: Phát A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề tâm giả, thuyết chư pháp đoạn diệt. Mạc tác thị niệm! Hà dĩ
cố? Phát A nậu đa la tam miệu tam-bồ-đề tâm giả; ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng.
Tu-bồ-đề!
Ví như ông có ý này: Như-lai chẳng do các tướng đầy đủ để được a nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Đừng nghĩ như thế, rằng Như-lai chẳng nhờ các tướng
đầy đủ để được a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Tu-bồ-đề!
Nếu ông có ý tưởng ấy, kẻ phát tâm a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề ắt nói rằng
các pháp đoạn diệt. Đừng nghĩ như vậy! Tại sao? Người phát tâm a-nậu đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề, nơi pháp chẳng nói tướng đoạn diệt.
Lược giải:
Tới
đây, Phật e rằng các chúng sanh có thể hoài nghi, mà tự hỏi nếu chẳng thể lấy
ba mươi hai tướng để quán Như-lai thì Phật lấy gì để chứng vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Cho nên Phật mới thuyết giảng đoạn văn kinh này.
Phật
bảo: “Tu-bồ-đề! Ví như ông khởi ý nghĩ rằng Như-lai chẳng do các tướng đầy đủ
phước đức và trí huệ để chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu bồ-đề! Ông
nên nhớ, đừng có khởi lên ý nghĩ đó. Tại sao vậy? Nếu cho là a-nậu đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề là đoạn diệt của các tướng, tức có nghĩa là Như-lai không có các tướng
đầy đủ phước huệ mà chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác, ý tưởng đó
chính là tướng đoạn diệt.”
Phật
sợ mọi người có thể rơi vào tướng đoạn diệt nên nói: “Người phát tâm cầu vô thượng
chánh đẳng chánh giác, không thể nói rằng các pháp là đoạn diệt.
Không
nên như vậy! Tại sao? Bởi người phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác, đối
với mọi pháp đều giữ lẽ trung đạo, chẳng nói pháp đoạn, chẳng nói pháp thường,
chẳng rơi vào hai kiến chấp thường và đoạn. Nếu bị vướng mắc hai chấp thường đoạn,
tức không hợp với pháp Phật, chẳng thể thành Phật được. Bởi các lý do đó, người
tu học pháp Phật, phải hết sức minh bạch lẽ trung đạo, và cố xa lìa chấp thường
cũng như chấp đoạn.”
Hiện nay, Phật-giáo tại các nước Tây phương hãy còn mới mẽ, nên mỗi người trong chúng ta phải hết lòng hoằng dương. Tất cả những ai ưa thích Phật pháp, đều phải tự gánh lấy trách nhiệm này, không nên tìm cách lảng tránh coi như đây là nhiệm vụ của người khác. Mỗi cá nhân đều phải lấy việc truyền bá, giảng kinh, thuyết pháp, làm công việc của chính mình, coi như thiên chức của mình vậy.
Ngày
đêm, sáu thời, tự hỏi lòng mình: “Ta là một Phật tử, đã quy y Tam-bảo, ta có gì
để cống hiến cho Phật-giáo? Ta đã đóng góp được gì?” Nếu đã góp phần rồi thì ta
hãy góp thêm; nếu chưa có, ta lại càng phải cố gắng. Phật-giáo chưa được phổ biến
rộng lớn, cũng do chúng ta chưa hết lòng vì đạo. Chúng ta có tận tâm trong việc
hoằng dương Phật-pháp, mới có thể nói là làm tròn trách vụ của chúng ta, hoàn
thành thiên chức đã được giao phó. Chúng ta không thể lười biếng, cầu an cho
riêng mình. Người Tây phương chưa hiểu biết về Phật-giáo cũng vì thái độ lười
biếng của chúng ta, bởi vậy quý vị hãy nỗ lực thêm lên.
Lời bàn:
Thật ra tất
cả các cõi uế-độ và Tịnh-độ trong 10 phương đều là mộng huyễn, nhưng ở TỊNH ĐỘ
thì chứng được bất thoái chuyển cho đến khi thành Phật.
Tóm
lại, nếu “Qúy-vị” trì Ngũ Sắc Vân Thủ Nhãn Ấn Pháp, thì không còn trụ ở ÂM
THANH SẮC TƯỚNG, không còn trụ ở TAM TÂM TỨ TƯỚNG, nên “ĐƯỢC TRƯỜNG SANH BẤT TỬ”,
và cũng có khả năng như Bồ-tát Quán-thế-âm giúp cho 10 chúng TIÊN LÌA NGÃ CHẤP,
chứng được “THẬT TƯỚNG”, như tâm nguyện họ mong cầu. Hữu cầu
tắc ứng là đây chăng?
Kệ tụng:
Vị-đạo-cầu-tiên Nguyện trường sinh
Thọ dữ Thiên tề Bất giảm tăng
Toại tâm như ý Thông biến hóa
Ngũ sắc Tường vân Túc hạ đăng.
For the Tao (Way) one seeks immortality and long life,
For a lifespan as long as the heavens last, neither more nor less.
Just as you wish, auspiciously, penetrations and changes abound,
With a lucky cloud of Five-colors underneath your feet.
Ma Hê Ma Hê [26]
Án-- phạ nhựt-ra, ca rị ra tra hàm tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
THẬP
TIÊN CHÚNG
Kinh
văn:
A
Nan, lại có chúng sinh từ loài người, không nương theo chánh giác tu Tam ma địa,
lại riêng tu theo vọng niệm, để tâm củng cố hình hài, đến nơi rừng núi, những
chỗ người ta không đến được, thành mười thứ tiên.
Giảng
giải:
A
Nan, lại có chúng sinh từ loài người, không nương theo chánh giác tu Tam ma địa.
Từ loài người, họ không tu hành chánh định, tu đại định Thủ Lăng Nghiêm, chẳng
hành công phu quay trở lại tánh nghe để lắng nghe tự tánh, mà tu tập theo vọng
tưởng. Có thể họ sẽ nghĩ, như: “Bây giờ ta tu hành, khi thành công mọi người sẽ
thấy pháp thuật của ta; lúc đó họ sẽ tin ta, khâm phục ta, nghe theo lời của
ta.” Đấy không phải là mục đích tu hành để thành Phật, họ chỉ muốn phát triển
khả năng khéo léo để được mọi người khâm phục, phụng sự. Đấy là cách thể hiện
lòng tham và ngu ngốc của chính mình như vậy, để tâm củng cố hình hài, đến nơi
rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười thứ tiên. Họ vọng tưởng
mình sẽ được trường sinh bất tử, thế nên họ đi vào rừng sâu, nơi không ai đến
được.
Kinh
văn:
A
Nan, các chúng sinh kia, kiên cố dùng đồ bổ dưỡng mà không dừng nghỉ, khi đạo
ăn được thành tựu thì gọi là Địa hành tiên. [1]
Giảng
giải:
A
Nan, các chúng sinh kia, kiên cố dùng đồ bổ dưỡng mà không dừng nghỉ. Họ dùng
thức ăn, các dược chất, mục đích để được bất tử. “Kiên cố” – chỉ sự kiên trì thực
hiện. Có người giải thích đó là lòng tin tuyệt đối khi thực hiện. Họ rất chuyên
cần, ngày này qua ngày khác, luôn phát huy khả năng, luyện tập và dùng thuốc,
chỉ mong được sống mãi. Khi đạo ăn được thành tựu thì gọi là Địa hành tiên. Kết
quả, họ có được thân hình rất nhẹ khi đi đây đó. Họ có thể chạy cực nhanh,
nhanh hơn cả đà điều ở nước Úc. Các thần tiên di hành như bay trên mặt đất như
thế nên gọi là Địa hành tiên.
Kinh
văn:
Kiên
cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi đạo thuốc được thành tựu, gọi là Phi
hành tiên. [2]
Giảng
giải:
Kiên
cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ. Họ quyết định kiên trì và thực hiện cho bằng
được. Nếu ai đó khuyên bảo thôi đi, họ không màng đến. Lòng họ cứng rắn hơn sắt
đá. Họ tin vào cách thức tu luyện của chánh mình – đấy là luyện thảo dược, làm
thức ăn hàng ngày. Khi đạo thuốc được thành tựu, gọi là Phi hành tiên. Thân thể
họ nhẹ nhàng như khói thuốc, họ có thể đi trên mây, bay lơ lửng như sương.
Kinh
văn:
Kiên
cố dùng kim thạch và không dừng nghỉ, khi đạo hóa chất được thành tựu, gọi là
Du hành tiên. [3]
Giảng
giải:
Kiên
cố dùng kim thạch và không dừng nghỉ. Tâm ý quyết định kiên trì thực hiện cho
được việc. Họ trộn lẫn thủy ngân và chì, hoặc vàng và bạc, sau đó nấu đi nấu lại,
luyện liên tục suốt bốn mươi chín ngày, hoặc hai mươi mốt ngày, thành một loại
linh dược, gọi là thuốc trường sinh. Mục đích thành công của họ là trường sinh
bất tử, thoát thai hóa cốt. Khi đạo hóa chất được thành tựu, gọi là Du hành
tiên. Tu luyện được siêu thoát, họ có thể đi khắp đó đây theo ý muốn.
Kinh
văn:
Kiên
cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, khi khí tinh thành tựu thì gọi là Du
hành tiên. [4]
Giảng
giải:
Kiên
cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, “làm những động tác”, chẳng hạn như
luyện quyền thuật, tập Thái cực đạo, và tu hành tịnh công, như luyện tinh hóa
khí, luyên khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Họ luyện tinh hóa khi cách nào? Họ
ngồi thiền và không để tinh khí thoát ra ngoài. Họ không gần gũi đàn bà. Khi
tinh không thoát nó ngược trở lại, người hành công phu làm cho tinh hóa khí,
thành luồng khí. Luồng khí này sẽ hòa quyện khắp châu thân.
Đoạn
tập trung tư tưởng biến hóa khí thành thần (tinh thần), từ thần lại trở về với
hư không – cho đến khi chính mình như hư không. Sách Đạo Gia Ngọc Hoàng Tâm Ấn
Kinh, viết: “Thượng dược có ba phẩm: thần và khí, tinh mơ hồ phảng phát, thăm
thẳm mông mênh”. Khi khí tinh thành tựu thì gọi là Du hành tiên.
Kinh
văn:
Kiên
cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ, khi nhuận đức được thành tựu, thì gọi là
Thiên hành tiên. [5]
Giảng
giải:
Các
giai đoạn trên nói về sự bất tử du hành trong không gian, ở đây sẽ thuật sự việc
con người có thể đi lên cõi trời. Kiên cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ. Đặt
lưỡi cong lên đốc họng để tiết ra nước bọt – nước bọt ấy, Đạo gia gọi là Ngọc dịch,
là Cổ thiên trì. Khi nước bọt tiết ra nhiều thì nuốt vào bụng. Lão giáo cho rằng
đó là linh đan bất diệt. Họ bảo:
Nếu
muốn trường sinh và bất lão
Tất
phải hồi tinh để nuôi dưỡng lão
Họ
tập trung tâm ý chuyển tinh lên đỉnh đầu, tăng sức mạnh cho não. Khi nhuận đức
được thành tựu, thì gọi là Thiên hành tiên. Khi thành công, mặt của họ sẽ hồng
hào trẻ lại như đứa bé, mặc dù đã lớn tuổi. Đấy là các Thiên hành tiên.
Kinh
văn:
Kiên
cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ, khi hấp thụ được thành tựu, gọi là
Thông hành tiên. [6]
Giảng
giải:
Kiên
cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ. Tâm ý của họ rất kiên định, vững chãi.
Họ chuyên tâm hấp thụ tinh hoa của nhật, nguyệt để luyện pháp trường sinh. Khi
hấp thụ được thành tựu, gọi là Thông hành tiên. Thông hành tiên có thể lên đến
cõi trời, hoặc đi bất cứ nơi nào họ muốn. Họ thực hiện pháp ấy như thế nào? Có
thể ví dụ: Buổi sáng, họ ngẩng nhìn mặt trời và hít thở ba trăm sáu mươi lần,
buổi chiều tối, họ nhìn mặt trăng cũng làm như vậy. Họ dành hết thời gian để tu
luyện cái bọc da của họ. Hòa thượng Hư Vân có viết: “Bài ca Cái Bọc Da” diễn tả
điều ấy. Tu luyện để được bất diệt chánh là vận dụng năng lực tự thân để phát
triển khả năng khéo léo, tinh tế.
Họ
không biết đó cũng là năng lực tự tính. Sự khác biệt giữa Lão giáo và Phật giáo
là Lão giáo muốn hiển bày cái khả năng đó, còn Phật thì không. Một đàng là trước
nhiễm, vướng mắc, một đàng thì chủ trương vô trước. Sự trước nhiễm chánh là trở
ngại, chướng ngại, nó khiến người ta không sao thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử
được. Họ không đạt được chân lý tuyệt đối, không giải thoát được chính mình.
Năm
hạng thần tiên như trên đã thuật qua và đều nói về sự “di hành”, chủ yếu là
trên mặt đất, họ không vượt đến tầm cao hơn. Năm hạng tiên trình bày sau có
tính cách khác hơn, mục đích hướng đến của họ cao xa hơn.
Kinh
văn:
Kiên
cố làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ, khi thuật pháp được thành tựu thì gọi
là Đạo hành tiên. [7]
Giảng
giải:
Kiên
cố làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ. Đây là những kẻ kiên tâm trì tụng chú
thuật. Chẳng hạn Lạt Ma ở Tây tạng, họ hành pháp rất tinh tế, khéo léo. Kiên cố
làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ. Họ trì tụng chú và luôn giữ giới cấm. Khi
thuật pháp được thành tựu thì gọi là Đạo hành tiên.
Kinh
văn:
Kiên
cố chuyên chú tư niệm mà không dừng nghỉ, khi chuyên niệm được thành tựu thì gọi
là Chiếu hành tiên. [8]
Giảng
giải:
Kiên
cố chuyên chú tư niệm mà không dừng nghỉ. Họ quay trở lại chính mình và tập
trung tư tưởng – không dừng nghỉ, chú yếu là phát triển tử tưởng. Khi chuyên niệm
được thành tựu thì gọi là Chiếu hành tiên. Khi tu luyện thành công thì thân có
thể ra vào tự tại, khí có thể giao thông trên dưới, hình và thần tướng chiếu
nhau, hóa ra ánh sáng.
Kinh
văn:
Kiên
cố về thủy hỏa giao cấu mà không dừng nghỉ, khi cảm ứng được thành tựu, thì gọi
là Tinh hành tiên. [9]
Giảng
giải:
Thông
thường, “giao cấu” là nói đến sự quan hệ của nam và nữ, nhưng ở đây không có
nghĩa như vậy. Hơn nữa, sự giao cấu lại xảy ra tự chính mình. Đạo Lão gọi điều ấy
là “bé trai và bé gái”. Trong cá nhân người nào cũng có khả năng như vậy. Đấy
không phải là vấn địa có thể tìm kiếm từ
bên ngoài. Mỗi người đều có một đứa con trai và một bé gái trong chính
mình.
Theo
kinh Dịch, con trai thuộc quẻ ly, con gái thuộc quẻ khảm. Quẻ ly là “Trung hư”,
quẻ khảm là “Trung mãn”.
Tám
quẻ trong kinh dịch như sau: từ 1 đến 8
Đầu tiên là quẻ Càn, gồm có ba vạch dài, tức vạch
dương. Càn thuộc yếu tố nam. Khôn có ba vạch dứt, tức vạch âm, thuộc yếu tố nữ.
Quẻ Càn tượng trưng người đàn ông ba mươi sáu tuổi, là cực thịnh. Sau đó dần
suy yếu và trở thành quẻ Ly. Từ quẻ Ly, các vạch âm dương thay đổi, biến ra
thành quẻ Khôn, quẻ Khảm.
Quẻ
Ly thuộc tâm, quẻ Khảm thuộc thân. Vậy, giao cấu là chỉ sự giao cấu giữa thân
và tâm, sự hòa hợp của thân và tâm. Quẻ Ly thuộc dương, nhưng trong dương có
âm.Quẻ Khảm trong âm có dương.
Bé
trai bé gái gặp nhau, tại sân vàng. Sân vàng là gì? Đấy là tâm, và pháp môn tu
luyện của Đạo gia chủ yếu là hòa hợp, là giao cấu như vậy.
Kinh
văn:
Kiên
cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ, khi giác ngộ được thành tựu thì gọi
là Tuyệt hành tiên. [10]
Giảng
giải:
Kiên
cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ. Đây là chuyên tâm tu luyện, nghiên cứu
sự biến hóa vật lý. Khi thành công sẽ phát sinh kỳ ngộ. Khi giác ngộ được thành
tựu thì gọi là Tuyệt hành tiên. Đây là thần tiên có khả năng dời non lấp biển.
Họ có thể di chuyển ngọn núi từ nơi này sang nơi khác, hoặc chuyển đổi biển cả
từ Đông sang Tây. Các tiên còn có quyền năng thay đổi mùa màng, thời tiết, biến
mùa Xuân thành mua Thu…Họ biết được huyền cơ của trời đất, họ trở thành đấng
sáng tạo từ chính họ, đấy gọi là Tuyệt hành tiên.
Kinh
văn:
A
Nan, bọn ấy ở trong loài người mà luyện tâm, mặc dù không tu chánh giác, nhưng
riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ nơi núi sâu, hoặc trên đảo trong biển
cả, cách tuyệt chỗ người ở, đấy cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển. Nếu như
không tu pháp Tam muội thì khi quả báo hết rồi, quay trở lại tản vào trong các
nẻo.
Giảng
giải:
A
Nan, bọn ấy ở trong loài người mà luyện tâm, mặc dù không tu chánh giác. Những
người tu ấy tu luyện thân tâm, họ không tu pháp thiền Lăng Nghiêm của Như Lai –
họ không tu hành theo chánh giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi.
Có nhiều pháp môn khác nhau, nhưng họ chọn pháp dưỡng sinh, nắm được đạo lý trường
sinh, thọ mạng rất lâu dài, sau khi thành công, họ nghỉ nơi núi sâu, hoặc trên
đảo trong biển cả, cách tuyệt chỗ người ở, những nơi ấy người thường không đến
được. Đấy là cảnh non bồng nước nhược, nơi có bảy ngọn núi vàng, chung quanh
núi là biển cả, đặc biệt, nước biển ở đây rất mềm, không có ghe thuyền nào đi
được, cả một cọng lông chim rơi xuống nước cũng chìm sâu xuống. Nơi đấy chỉ có
hàng phi tiên mới đến được. Tuy nhiên, đấy cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển.
Nếu như không tu pháp Tam muội. Mặc dù thọ mạng có kéo dài hàng nghìn năm, họ vẫn
ở trong vòng luân hồi, chưa chấm dứt con đường sinh tử. Lý do luân hồi là vì
con trước nhiễm, còn tham muốn, đặc biệt là muốn trường sinh bất lão. Đấy là vọng
tưởng, và họ cũng không tu hành chánh định, thì khi quả báo hết rồi, quay trở lại
tản vào trong các nẻo. Khi thọ mạng chấm dứt, họ lại tái sinh, trở thành người
bình thường, hoặc quỷ A Tu La, hoặc chư Thiên, hoặc sa vào địa ngục. Đấy là những
nơi họ phải đến.
GREAT COMPASSION MANTRA
26. MASHI MASHI RIDHAYU
MASHI MASHI means “no words, the ultimate mind.”
No words means, “Do not speak!” The ultimate mind means the “utmost thought.” And what is that? It’s just what is wonderful.
MASHI MASHI may also be translated as “comfort.”
To be as comfortable as the Great Brahma Heaven King: no sorrows, no worries, without care or anxieties, you are happy and in control all day long.
This is the Five-colored Cloud Hand and Eye.
Carrying an auspicious five-colored cloud on palm of your hand, you are extremely “comfortable.” Its uses are also limitless and unbounded, and its comfortable, wonderful functions are endless.
RIDHAYU is the Blue Lotus Hand and Eye. It means “heart of the lotus flower.” When you have cultivated this hand and eye to perfection, the fragrance of the blue lotus will be manifest, and you will be praised by the Buddhas of the ten directions. It is extremely subtle and wonderful, and inconceivable,
"A supreme and extremely profound Dharma,
Which in a billion aeons is difficult to encounter."
26. Ma Hê Ma Hê Rị Ðà Dựng
Ma Hê Ma Hê. Hán dịch là “Vô ngôn cực ý”
“Vô ngôn” nghĩa là không cần phải nói nữa.
“Cực ý” có nghĩa là ý niệm kia đã đạt đến chỗ tối thượng, đã đạt chỗ vi diệu rồi.
Ma hê ma hê cũng còn có thể dịch là “tự tại”. Tự tại như Đại Phạm Thiên Vương: không buồn, không phiền, không lo, không giận. Suốt ngày đều được tự chủ và an vui.
Đây là “Ngũ Sắc Vân Thủ Nhãn”. Khi biết ấn này, sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc, và hành giả sẽ đạt được năng lực tự tại phi thường. Diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thực là vô lượng vô biên.
Rị Ðà Dựng là “Thanh Liên Hoa thủ nhãn”. Có nghĩa là “Liên hoa tâm”. Khi quí vị hành trì ấn pháp này thành tựu, sẽ được mùi hương hoa sen xanh toả ra, và được mười phương chư Phật tán thán. Sự vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn. Đúng là:
Pháp Phật cao siêu thật nhiệm mầu
Trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu!
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
26. MA HÊ MA HÊ RỊ ÐÀ DỰNG
MA SI, MA SI, RÍCH ĐAY DUM.
(MASHI MASHI RIDHAYU)
Bổn-thân đức Phật A-Di-Đà.
Đây là Bản-thân lộ tướng rất thung dung của Phật A-Di-Đà tóc bạc.
Responding to those who are ready, he appears in boundless bodies.
With awesome spirit, he reveals things great and small, provisional and real.
This vajra indestructible body is forever free at ease.
As his heavenly eye contemplates, his heavenly ear listens.
Ứng cơ Thị hiện Vô-lượng thân
Đại tiểu Quyền thật Hiển uy thần
Kim cang Bất hoại Thường tự tại
Thiên nhãn Diêu quán Thiên nhĩ văn.
Bổn-thân đức Phật A-Di-Đà, Xin nương bậc Đại-tự-tại hiện Ngũ-sắc-vân-thủ-nhãn; bậc Liên-hoa-tâm hiện Thanh-liên-thủ-nhãn.




Comments
Post a Comment