22. The Jewel-chest Hand
and Eye
The Sutra says: “For
uncovering hidden treasures in the earth,
use the Jewel-chest Hand.”
The Mantra: Syi two yu
yi. Shr pan la ye.
The True Words: Nan. Wa
dz la. Bwo she jye li.
Jye nang syin. La hung.
The verse:
The
heavens are wonderfully adorned with myriad gems.
In
the earth hidden treasure transforms the foolish people;
Rare
jewels glow in the dragon palace underneath the sea.
The
Jewel-chest Hand radiates brilliant light.
22.
Bảo-Khiếp Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn lấy được kho báu ẩn
trong lòng đất,
nên cầu nơi Tay cầm cái Bảo-Kiếp.”
Thần-chú
rằng: Tất Ðà Du Nghệ [57]
Thất
Bàn Ra Dạ [58]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- phạ nhựt-ra, bá thiết ca rị,
yết nẳng hàm, ra hồng.
Kệ
tụng:
Thiên thượng
chúng bảo diệu nghiêm trang
Địa trung phục
tạng hóa ngu manh
Hải lý long
cung kỳ trân hiện
Bảo khiếp thủ
nhãn phóng hào quang.
(Trên các cõi Trời dùng vô-lượng diệu bảo để
trang nghiêm cảnh giới,
Trong “Tâm-Địa”
đầy đủ GIỚI, ĐỊNH, HUỆ và THẦN THÔNG để chuyển hóa quần mê.
Trong
Long-cung ở dưới biển xuất hiện Kỳ-trân, thì có thánh nhân ra đời,
Cũng như Bảo
khiếp Thủ Nhãn Ấn Pháp phóng hào quang, thì có người đắc đạo.)
Trong
Kinh lúc nào cũng có 2 nghĩa: 1) Tượng
trưng 2) Thật tướng. Cũng như Bồ-tát Quán Thế-Âm là tượng trưng cho TÂM “ĐẠI-BI”, và cũng thật có “Bồ-tát Quán Thế-Âm”
có đủ ngàn tay ngàn mắt, để cứu khổ cho VÔ-LƯỢNG chúng sanh.
Như
trong “ĐẤT” ẩn chứa Vàng, Bạc, Kim-cương... nhưng cũng có nghĩa là “TÂM-ĐỊA” ẩn
tàng Kinh, Luật, Luận, và Bí-mật Tạng vậy. Cho nên, khi Qúy-vị TRÌ “BẢO KIẾP THỦ
NHÃN ẤN PHÁP” đến TÂM và PHÁP không hai, thì KINH, LUẬT LUẬN, BÍ-MẬT TẠNG chuyển
thành GIỚI, ĐỊNH, HUỆ và THẦN THÔNG, lúc nầy “QÚY-VỊ” có khả năng chuyển hóa
chúng sanh u mê.
Như
cũng thật có “Bồ-tát Địa-tạng” ở dưới địa ngục để cứu độ chúng sanh thoát khổ.
Nếu “Qúy-vị” lễ bái ngài, thì cùng ngài có DUYÊN, nhất định sẽ được NGÀI độ
thoát.
Nếu
như trong biển có kỳ trân xuất hiện, thì có THÁNH NHÂN RA ĐỜI.
Nếu
như có người Trì “BẢO KIẾP THỦ NHÃN ẤN
PHÁP” PHÓNG HÀO QUANG, thì có khả
năng cứu độ loài “RỒNG”, hàng “NGƯỜI” và
“TRỜI” ra khỏi sanh tử luân hồi trong TAM GIỚI.
Lại
nữa, những người trì danh hiệu “ NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT”, thì cũng có đủ “GIỚI, ĐỊNH,
HUỆ” và “THẦN THÔNG” diệu dụng như trên.
("Bản thần thông" là thần thông
sẵn có, phát sanh từ nguồn gốc chân tâm, không phải do tập luyện mà được.)
Kệ Niệm Phật
(Hòa Thượng
Thích Trí Tịnh soạn)
Nam
mô A Di Đà
Không
gấp cũng không hưởn
Tâm tiếng hiệp
khắn nhau (Hạ Thủ Công Phu)
Thường
niệm cho rành rõ
Nhiếp
tâm là Định học
Nhận
rõ chính Huệ học
Chánh
niệm trừ vọng hoặc
Giới thể đồng
thời đủ (Tương
Ưng với Giới, Định, Huệ)
Niệm
lực được tương tục
Đúng
nghĩa chấp trì danh
Nhất tâm Phật
hiện tiền (Sự Nhất Tâm)
Tam-muội
sự thành tựu
Đương niệm tức
vô niệm (Lý nhất Tâm)
Niệm
tánh vốn tự không
Tâm
làm Phật là Phật
Chứng
lý pháp thân hiện
Nam
mô A Di Đà
Nam
mô A Di Đà
Cố
gắng hết sức mình
Cầu đài sen
thượng phẩm (Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)
Một Trăm Bài
Kệ Niệm Phật
của Triệt Ngộ
Ðại Sư
Việt dịch và
Lược giải: Hòa Thượng Thích Thiền-Tâm
Nhứt cú Di
Ðà
Nhứt Ðại Tạng
Kinh
Tung hoành
giao thái
Tuyệt đãi u
linh.
( Một câu A
Di Ðà
Là một Ðại Tạng
Kinh
Dọc, ngang
giao chói sáng
Tuyệt đối,
thể u linh.)
Lược giải:
Có
một độ, bút giả (Hòa Thượng Thích Thiền-Tâm) vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm,
tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:
Lời bàn: Thông thường người tụng kinh đều tìm kiến giải, rồi theo kiến giải mà thực hành, như theo Hòa Thượng thì quên hết mọi điều kiến giải, đọc từ đầu đến cuối, thì mới hợp với “CHƠN TÂM BỔN TÁNH”.
Cũng như lìa sáu trần: Sắc, Thanh, Hương,Vị, Xúc, Pháp mà có sự hiểu biết , thì đó mới là CHƠN TÂM của chính mình. (KINH LĂNG NGHIÊM)
Vi trần phẫu
xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải
thiên kinh không dịch hình!
Vô lượng
nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu
chuyển tịch thường thinh.
Bài
kệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại
Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì
tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi
tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày.
Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường
vắng lặng ấy!
Câu
niệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải
chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi.
Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm
thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự
đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!
Nhứt cú Di
Ðà
Nhứt đại tạng
Luật.
Miết nhĩ tịnh
tâm
Giới ba la mật.
( Một câu A
Di Ðà
Là một Ðại Tạng
luật.
Chớp mắt vào
tịnh tâm
Ðủ Giới Ba
La Mật.)
Lược giải:
Câu
niệm Phật đã bao hàm đầy đủ nghĩa lý của một Ðại Tạng Kinh thì đối với một Ðại
Tạng Luật nó cũng như thế. Vì luật chẳng ngoài nhiếp giữ thân, khẩu, ý cho
trong sạch. Và thân, khẩu, ý lại không ngoài tâm, nếu tâm thanh tịnh thì ba
nghiệp cũng đều trang nghiêm thanh tịnh. Luật nói: "Phật chế tất cả giới,
mục đích để trị tất cả vọng tâm. Nếu không có tất cả vọng tâm thì cần chi dùng
tất cả giới?" (Phật chế nhứt thiết
giới, vi trị nhứt thiết tâm. Nhược vô nhứt thiết tâm, hà dụng nhứt thiết giới?)
Cho
nên khi niệm Phật, thoáng chốc dứt hết vọng tưởng đi vào tịnh tâm, tức đã đầy đủ
Giới Ba La Mật rồi. Ba-la-mật là "bờ bên kia", là nơi giải thoát rốt
ráo. Niệm Phật thanh tịnh, tức đã đầy đủ sự giữ giới đến bờ cứu cánh giải thoát
vậy.
Lời Bàn: Niệm Phật đến tương tục không gián đoạn, thì
Thân, Khẩu, Ý không còn cơ hội xen vào “Phạm Giới”. Thì đây mới thật là giữ giới.
Nhứt cú Di
Ðà
Nhứt Ðại Tạng
Luận.
Ðương niệm
tâm khai
Huệ quang
như phún.
( Một câu A
Di Ðà
Là một Ðại Tạng
Luận.
Ðương niệm
tâm mở thông
Ánh huệ tuôn
vô tận.)
Lược giải:
Như
trên, câu niệm Phật đã bao hàm Kinh, Luật, tất nhiên đối với Luận cũng như thế.
Kinh Viên Giác nói: "Trí tuệ sáng sạch vô ngại đều từ nơi Thiền Ðịnh mà
sanh". Niệm Phật thanh tịnh chính
là thiền định, từ Ðịnh phát sanh trí huệ. Ðã có trí huệ thì nguồn biện luận
sẽ vô cùng. Tứ vô ngại biện cũng từ nơi niệm Phật thanh tịnh tâm cảnh mở sáng
mà tuôn trào như suối chảy.
Nhứt cú Di
Ðà
Nhứt tạng bí
mật.
Phát bản thần
thông
Cụ đại uy lực.
( Một câu A
Di Ðà
Là một tạng
bí mật.
Phát nguồn cội
thần thông
Ðầy đủ uy lực
lớn.)
Lược giải:
Câu
niệm Phật đã gồm ba tạng của Hiển giáo lại cũng đủ thần thông uy lực của bí tạng
Mật giáo. "Bản thần thông" là
thần thông sẵn có, phát sanh từ nguồn gốc chân tâm, không phải do tập luyện mà
được. Niệm Phật công thuần đến mức thanh tịnh, cũng như người có sẵn tiền
muốn mua món gì cũng được.
Dùng
công đức niệm Phật để cầu an, cầu siêu, trừ tai nạn, trị đau bịnh, hàng tà ma,
sám tội chướng, cầu phước huệ duyên lành, nguyện sanh lên cung trời hoặc về cõi
Phật, cho đến cầu Ðại Niết Bàn cũng đều thành tựu. Tất cả uy lực thần thông
cũng từ câu niệm Phật mà phát sanh.
Như
thuở xưa, Thiện Ðạo đại sư khi niệm Phật, mỗi câu đều có một luồng ánh sáng
phóng ra. Một Ðại sư về Tịnh tông bên Nhật Bản, mỗi câu niệm hồng danh, trong
miệng bay ra một vị Phật. Liên Trì đại sư lúc dân chúng nhờ đảo võ, ngài chỉ ra
ngoài đồng gõ mõ niệm Phật, đi tới đâu mưa rơi đến đó. Niệm Phật tùy ý phát ra
thần thông uy lực là như thế.
Nhứt cú Di
Ðà
Hồn toàn Ðại
Tạng
Giới, Ðịnh,
Huệ quang
Lưu xuất vô
lượng!
( Một câu A
Di Ðà
Gồm toàn cả
Ðại Tạng.
Giới, Ðịnh,
Huệ ánh mầu
Tuôn ra
không hạn lượng! )
Lược giải:
Bài
kệ trên nói tổng quát về sự bao hàm các Ðại Tạng của câu niệm Phật. Các Ðại Tạng
đây, gồm Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Tạp tập tạng và Bí Mật tạng. Tạp Tập
tạng nói về các pháp Ðại Thừa cũng gọi Bồ Tát tạng. Bí Mật Tạng gồm các phương
thức đàn, ấn, chú, mở một lối tu đặc biệt, gọi là Kim Cang Thừa.
Ðường
lối chứng lên thánh đạo không ngoài căn bản Giới, Ðịnh, Huệ, nhưng chỉ một câu
niệm Phật đã gồm đủ. Niệm Phật nhiếp thân, khẩu, ý trong sạch là Giới. Niệm Phật thanh tịnh lòng không
loạn động là Ðịnh. Niệm Phật sáng suốt
dứt hết vọng tưởng điên đảo là Huệ.
Hành trì như thế, công càng dày, niệm càng sâu thì ánh nhiệm mầu của giới, định,
huệ, càng sáng tỏ và chiếu xa đến nơi vô cùng tận!
Thật
không ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh,
Thật
không ngờ tánh mình vốn không sanh diệt,
Thật
không ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ,
Thật
không ngờ tánh mình vốn không lay động,
Thật
không ngờ “TÁNH MÌNH” có thể sanh ra
muôn pháp!
(KINH PHÁP BẢO ĐÀN)
Lời bàn:
“TÁNH
MÌNH” còn gọi là: TÂM-ĐỊA, TỰ TÂM BỔN TÁNH, CHƠN TÂM, NHƯ LAI TẠNG, ĐẠI VIÊN CẢNH
TRÍ, PHỔ QUANG MINH TRí, PHẬT TRI KIẾN, NHẬP PHÁP GIỚI…Tại sao có nhiều “TÊN”
như vậy? Vì “TÁNH MÌNH” TRÙM KHẮP PHÁP
GIỚI”, LÌA TẤT CẢ TƯỚNG SANH DIỆT, NẾU THÔNG ĐẠT, THÌ “TÊN NÀO” CŨNG LÀ “TÁNH
MÌNH”.
Tóm
lại, nếu Qúy-vị trì “BẢO KIẾP THỦ NHÃN ẤN PHÁP”, đến TÂM và PHÁP không hai, thì
chuyển KINH, LUẬT, LUẬN và BÍ MẬT TẠNG
thành GIỚI, ĐỊNH, HUỆ và THẦN THÔNG
diệu dụng , có khả năng chuyển hóa chúng sanh u mê mà không sợ sai lầm,
không làm cho chúng sanh “MẤT TÍN TÂM”, bỏ
tu hành, rồi mình cùng người bị đọa
lạc vì chưa TRÌ THỦ NHÃN NÀY.
ẤN PHÁP nghĩa là
TÂM và PHÁP không hai
BẢO
KIẾP THỦ NHÃN ẤN PHÁP PHÓNG RA HÀO QUANG, thì cảm ứng trên trời có những diệu bảo
trang nghiêm, dưới LONG-CUNG có những kỳ-trân vị-bảo xuất hiện, BÁO TRƯỚC ĐIỀN
LÀNH CÓ THÁNH NHÂN RA ĐỜI ĐỂ CỨU ĐỘ LOÀI RỒNG, HÀNG TRỜI NGƯỜI RA KHỎI SANH TỬ LUÂN HỒI TRONG TAM GIỚI.
Kệ tụng:
Thiên thượng chúng bảo Diệu nghiêm trang
Địa trung Phục tạng Hóa ngu manh
Hải lý long cung Kỳ trân hiện
Bảo-khiếp-thủ-nhãn Phóng hào quang.
The heavens are wonderfully adorned with myriad gems.
In the earth hidden treasure transforms the foolish people;
Rare jewels glow in the dragon palace underneath the sea.
The Jewel-chest Hand radiates brilliant light.
22. Bảo-Kiếp Thủ Nhãn Ấn Pháp
Tất Đà Du Nghệ [57]
Thất Bàn Ra Dạ [58]
Ta-bà ha [59]
Án-- phạ nhựt-ra, bá thiết ca rị,
yết nẳng hàm, ra hồng.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
GREAT COMPASSION MANTRA
57. SITAYAYE
SITA means “accomplishing
benefit.” YAYE means “non-activity,” or “empty
space.”
57. Tất Đà Du Nghệ
Tất đà. Hán dịch là
“thành tựu lợi ích”.
Du nghệ. Hán dịch là
“Vô vi” hay còn gọi là “hư không”.
58. SHVARAYA
SHVARAYA means “comfort.” This
is the Jewel-chest Hand and Eye with which one can uncover all
the treasures hidden within the earth and use them to benefit living beings.
The sentence means that the principle substance of your self
nature has gained comfort and accomplished all benefits.
58.
Thất Bàn Ra
Dạ
Thất
bàn ra dạ. Hán dịch là “Tự tại”. Đây là Bảo
hiếp thủ nhãn ấn pháp. Hành giả thành tựu ấn pháp này có thể sử dụng lấy tất
cả các thứ châu báo ẩn giấu trong lòng đất để làm lợi ích cho chúng sanh. Ý của
câu chú này nói rằng ở nơi thể tánh mà thường được tự tại và thành tựu vô lượng
công đức.
59. SVAHA
In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings, and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.
Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.” If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have accomplishment.
Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.” When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve, whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well, you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response. Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,” and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good friend, even a Good Knowing Advisor.
The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana-- when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and Bodhisattvas can know your virtuous practice.
“ELIMINATING DISASTERS” is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.
“AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is especially beneficial.
I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.-- Why doesn’t anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.
When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.
Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.
59. Ta-bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “Thành-tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tín. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “Viên-tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”. Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm Vô-trụ là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là Vô-trụ.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí huệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí huệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là 6 nghĩa của Ta bà ha.
1. Thành-tựu
2. Cát-tường
3. Viên-tịch
4. Tức-tai
5. Tăng-ích
6. Vô-trụ
Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
57. TẤT ÐÀ DU NGHỆ
SI-TAY-DA-DÊ.
(SITAYAYE)
Chư Thiên Bồ-tát
Đây là chư Thiên Bồ-tát đều tập họp lại,
thọ thỉnh pháp, lợi lạc chúng sanh.
According with their kinds, he appears as various gods to rescue them.
By joining in their work, doing good deeds, he attracts those with conditions.
Ignoring himself for the sake of others, he is truly selfless.
He vows that all beings will become worthy sages.
Tùy loại hóa hiện Độ chư-thiên
Đồng Sự Lợi Hành tiếp hữu duyên
Xả kỷ vị nhơn Chơn vô ngã
Thệ Nguyện Chúng Sanh thành thánh hiền.
Chư Thiên Bồ-tát, Đấng hiện Bảo-kiếp-thủ-nhãn thành tựu Tâm-vô-vi như hư không.
58. THẤT BÀN RA DẠ
SOA-VA-RAY-DA.
(SHVARAYA)
Ngài Quán-Thế-Âm tu pháp An-tức-hương.
Đây là An-tức-hương pháp tu của
đức Phật A-Di-Đà và Bồ-tát Quán-Thế-Âm.
This time around the Bodhisattva appears as a goddess,
Bestowing the teaching for those who are ready and guiding the confused.
With gradual, gentle, and wholesome enticements, she instructs tirelessly.
Her kindness and compassion are fair and equal in gathering in beings.
Bồ tát thị hiện Thiên nữ-thân
Nhân cơ Đậu giáo Chỉ mê tân
Tuần tuần thiện dụ Hối bất quyện
Từ bi Bình đẳng Nhiếp quần sanh.
Ngài Quán-Thế-Âm tu pháp An-tức-hương, Đấng hiện Bảo-kiếp-thủ-nhãn thành tựu một cách tự tại.
59. TA BÀ HA
SÓA HA.
(SVAHA)
Bổn-thân ngài A-Xà-Na Bồ-tát.
Ngài A-Xà-Na Bồ-tát tay cầm Bát đưa lên cao.
Dispelling disasters and difficulties, purging demons of sickness-
The wonderful functions of the Jeweled Bowl are quite inexpressible.
Fulfilling every wish we have, he bestows fearlessness.
Gate, gate, swo pe he
Tiêu tai Miễn nạn Trừ bệnh ma
Bảo-bát Diệu dụng Bất khả thuyết
Toại tâm Mãn nguyện Thí vô úy
Yết đế Yết đế Ta-bà-ha.
Bổn-thân ngài A-Xà-Na Bồ-tát, Đấng hiện Bảo-kiếp-thủ-nhãn thành tựu sự Tăng-ích.




Comments
Post a Comment