THE FORTY-TWO HAND AND EYE
21. The Purple Lotus Hand
and Eye
The Sutra says: “For
meeting the Buddhas of the ten
directions, use the Purple Lotus Hand.”
The Mantra: Fwo la she ye
The True Words: Nan. Sa
la sa la. Wa dz la jya la. Hung pan ja.
The verse:
With
the miraculous, inconceivable Purple Lotus Flower,
We
attain Bodhi quickly, the Dharma of liberation.
We
meet the Buddhas of the ten directions,
And
never again descend into the homes of the six paths.
21. Tử-Liên-Hoa
Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn được diện kiến 10
phương tất cả
chư Phật, nên cầu nơi Tay
cầm Hoa-Sen-Tím.”
Thần-chú
rằng: Phật Ra Xá Da [40]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- tát ra tát ra, phạ nhựt-ra ca
ra, hồng phấn tra.
Kệ
tụng:
Vi diệu nan
tư tử liên hoa
Bồ đề tốc chứng
giải thoát pháp
Diện kiến thập
phương Phật-đà-da
Tùng kim bất
lạc lục đạo gia.
(Tử Liên Hoa
Thủ Nhãn Ấn Pháp, vi diệu không thể “NGHĨ BÀN” mà hiểu được,
Được Pháp Giải-thoát
nầy, thì mau chứng qủa Bồ-đề của chư PHẬT.
Gặp được chư
Phật ở 10 phương Tịnh-độ,
Thì “TỰ-TẠI”
vào Lục-đạo, cứu độ tất cả Chúng-sanh “MÀ KHÔNG BỊ THỐI CHUYỂN.”)
Phụ-chú.
Bản dịch của HT. Thích Thiền-Tâm, không có 2 chữ “CA RA”.
(OṂ SĀRA SĀRA VAJRA-KĀRA HŪṂ PHAṬ)
Tỷ-khưu
Đức-Vân dạy Thiện-tài Đồng-tử về môn “ỨC-NIỆM NHỨT-THIẾT CHƯ PHẬT CẢNH-GIỚI
TRÍ-HUỆ QUANG-MINH PHỔ-KIẾN”, như thế nào mà gặp được chư Phật ở mười phương tịnh
độ?
Lúc
đầu, thì Bồ-tát Văn-Thù Sư-lợi dạy cho Thiện-Tài Đồng-Tử “PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM”, tức là chỉ dạy cho Thiện-Tài
về phần “TÍN-GIẢI”, mà không dạy về phần “HÀNH-CHỨNG”, KHÔNG DẠY làm thế nào để “NHẬP PHÁP GIỚI.”
Rồi
THIỆN TÀI được Bồ-tát Văn-thù giới thiệu theo học với “TỶ-KHƯU ĐỨC VÂN”, rồi Tỷ-khưu
Đức-vân giới thiệu tới một vị “Thiện Tri Thức” khác… cho đến sau cùng gặp ”PHỔ-HIỀN
BỒ-TÁT” dạy THIỆN TÀI “PHÁT NGUYỆN VÃNG
SANH” VỀ CÕI CỰC LẠC CỦA ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ, thì mới mau “NHẬP PHÁP GIỚI” một
cách viên mãn.
Tôi nay hồi
hướng các căn lành
Ðể được Phổ
Hiền hạnh thù thắng.
Nguyện tôi
lúc mạng sắp lâm chung
Trừ hết tất
cả các chướng ngại
Tận mặt gặp
Phật A Di Ðà
Liền được
vãng sanh cõi Cực Lạc,
Tôi đã vãng
sanh cõi kia rồi
Hiện tiền
thành tựu nguyện lớn này
Cả thảy tròn
đủ không thừa thiếu
Lợi lạc tất
cả các chúng sanh.
Chúng hội Di
Ðà đều thanh tịnh
Tôi từ hoa
sen nở sinh ra
Thân thấy đức
Phật Vô Lượng Quang
Liền thọ ký
tôi đạo Bồ Ðề.
Nhờ đức Phật
kia thọ ký rồi
Tôi hóa vô số
vạn ức thân
Trí huệ rộng
lớn khắp mười phương
Khắp lợi tất
cả chúng sanh giới.
Nhẫn đến hư
không thế giới tận
Chúng sanh,
nghiệp và phiền não tận
Nhưng bốn
pháp ấy không cùng tận
Nguyện tôi rốt
ráo hằng vô tận
Tại
sao “Bồ-tát Văn-thù” không dạy, mà giới thiệu tới “Tỷ-khưu Đức-vân” học Đạo
? Vì bấy giờ, Thiện-tài không thấy rằng
gặp Bồ-tát Văn-thù là một chuyện hy-hữu, trong trăm ngàn muôn ức kiếp khó gặp
được một lần, nên dù Bồ-tát Văn-thù có dạy, thì Thiện-tài cũng không chứng nhập
được.
Cho
nên, trước khi lên đường tìm cầu “THIỆN TRI THỨC”, Bồ-tát Văn-thù dặn dò THIỆN-TÀI
rằng:
“Thiện
tri thức có dạy bảo điều chi phải đều tùy thuận. Nơi thiện xảo phương tiện của
thiện tri thức chớ thấy lỗi lầm. (Y theo PHÁP không Y theo NGƯỜI)
Lời
dạy của “BỒ-TÁT VĂN-THÙ” cũng giống như Phẩm
“TỨ-Y” trong “Kinh Đại-Bát Niết-Bàn”:
1)
Y theo PHÁP không Y theo NGƯỜI
2)
Y theo NGHĨA không Y theo LỜI
3)
Y theo TRÍ không Y theo THỨC
4)
Y theo KINH LIỄU-NGHĨA không Y theo KINH CHẲNG LIỄU NGHĨA
Phương
nam này có một nước tên là Thắng Lạc. Trong nước Thắng Lạc có tòa núi tên là Diệu
Phong. Trên núi đó có một Tỳ kheo tên là Ðức Vân. Ngươi nên đến hỏi Tỳ Kheo Ðức
Vân : Bồ Tát phải học Bồ Tát hạnh thế nào ? Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào ? Nhẫn
đến phải như thế nào để được mau viên mãn hạnh Phổ Hiền ? Tỳ Kheo Ðức Vân sẽ chỉ
bảo cho ngươi.”
Thiện
Tài đồng tử nghe xong hớn hở vui mừng, đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, hữu nhiễu
vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng, rơi lệ từ tạ mà đi qua hướng Nam, đến nước Thắng
Lạc, lên núi Diệu Phong. Ở trên núi đó xem ngó tìm kiếm khắp bốn phía, lòng
khao khát muốn được gặp Tỳ-Kheo Ðức-Vân. Bảy ngày sau mới được thấy Tỳ Kheo Ðức
Vân ở trên ngọn núi khác đi kinh hành chậm rãi.
BÀI
HỌC THỨ 1: DẠY “NHỚ NIỆM THIỆN TRI THỨC” trong 7 ngày.
Tỷ-khưu
Đức-vân dạy Thiện-tài về môn “NHỚ NIỆM THIỆN TRI THỨC”, cũng giống như pháp
“TRÌ DANH HIỆU PHẬT”, trong KINH A-DI-ĐÀ , làm cho Thiện-tài có “TÂM” mong cầu
muốn gặp được Thiện-Tri-Thức, nên trong 7 ngày nhớ niệm, khát ngưỡng mong gặp Tỷ-khưu
Đức-vân, nên được nhất Tâm, như chỉ được sự nhất tâm mà thôi, vì còn thấy mình ở
núi bên nầy, Tỷ-khưu Đức-vân ở núi bên kia (còn năng niệm sở niệm)
Thấy
xong, Thiện Tài đồng tử liền đến đảnh lễ chân Tỳ Kheo Ðức Vân, hữu nhiễu ba
vòng cung kính đứng trước Ðức Vân mà bạch rằng :
Bạch
Ðức Thánh ! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát phải học Bồ
Tát hạnh thế nào ? Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào ? Nhẫn đến phải thế nào để được
mau viên mãn hạnh Phổ Hiền ? Tôi nghe đức Thánh khéo có thể dạy bảo, mong đức
Thánh thương xót dạy cho tôi thế nào Bồ Tát được thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Ðức
Vân Tỳ Kheo bảo Thiện Tài đồng tử rằng :
Lành
thay ! Lành thay ! Này thiện nam tử ! Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, lại có
thể hỏi hạnh của Bồ Tát. Việc như vậy là sự khó trong những sự khó. Những là cầu
Bồ Tát hạnh, cầu Bồ Tát cảnh giới, cầu đạo xuất ly của Bồ Tát, cầu đạo thanh tịnh
của Bồ Tát, cầu tâm thanh tịnh quảng đại của Bồ Tát, cầu Bồ Tát thành tựu thần
thông, cầu Bồ Tát thị hiện môn giải thoát, cầu Bồ Tát thị hiện việc làm tại thế
gian, cầu Bồ Tát tùy thuận tâm của chúng sanh, cầu môn sanh tử Niết bàn của Bồ
Tát, cầu Bồ Tát quán sát hữu vi vô vi tâm không chấp trước.
Này
thiện nam tử ! Ta được sức thắng giải tự tại quyết định, tín nhãn thanh tịnh,
trí quang chói sáng, thấy khắp các cảnh giới khỏi tất cả chướng ngại, quán sát
khéo léo, phổ nhãn sáng suốt, đủ hạnh thanh tịnh. Qua đến tất cả cõi nước mười
phương cung kính cúng dường tất cả chư Phật. Thường nhớ tất cả chư Phật Như
Lai. Tổng trì tất cả chánh pháp của chư Phật. Thường thấy tất cả chư Phật mười
phương.
Những
là thấy phương đông một đức Phật, hai đức Phật, mười đức Phật, trăm đức Phật,
ngàn đức Phật, ức đức Phật, trăm ức đức Phật, ngàn ức đức Phật, trăm ngàn ức đức
Phật, na do tha ức đức Phật, trăm na do tha ức đức Phật, ngàn na do tha ức đức
Phật, trăm ngàn na do tha ức đức Phật, nhẫn đến thấy vô số, vô lượng, vô biên
vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất
khả thuyết bất khả thuyết đức Phật.
Nhẫn
đến thấy chư Phật bằng số vi trần trong Diêm Phù Ðề, bằng số vi trần trong bốn
châu thiên hạ, bằng số vi trần trong Tiểu thiên thế giới, bằng số vi trần trong
nhị thiên thế giới bằng số vi trần trong Ðại Thiên thế giới, bằng số Phật sát
vi trần nhẫn đến thấy chư Phật bằng số bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát
vi trần.
Như
phương đông, chín phương kia cũng đều thấy như vậy.
Chư
Phật trong mỗi phương, những sắc tướng, những hình mạo, những thần thông, những
du hí, những chúng hội trang nghiêm đạo tràng, những quang minh chiếu sáng vô
biên, những quốc độ, những thọ mạng. Tùy những tâm sở nghi của chúng sanh mà
chư Phật thị hiện những môn thành Ðẳng Chánh Giác, làm sư tử hống trong đại
chúng.
Này
thiện nam tử ! Ta chỉ được pháp môn "ức niệm Nhứt thiết chư Phật cảnh giới
trí huệ quang minh phổ kiến" này thôi.
BÀI
HỌC THỨ 2 : DẠY “ỨC-NIỆM NHỨT-THIẾT CHƯ
PHẬT CẢNH-GIỚI TRÍ-HUỆ QUANG-MINH PHỔ-KIẾN”.
Khi
niệm một vị Phật nào đó tới “không còn
năng niệm sở niệm”, thì thấy được TẤT CẢ CHƯ PHẬT HIỆN Ở TRONG “PHỔ-QUANG MINH
TRÍ” SÁT-NA TẾ TAM MUỘI , rồi “Qúy-vị”
có khả năng hóa hiện vô-lượng thân, ở trước vô-lượng chư Phật ở 10 phương đồng
thời niệm Phật. Vì Thường niệm tất cả
chư Phật Như Lai, nên Thường thấy tất cả chư Phật ở mười phương Tịnh-độ.
Đây gọi là “ỨC-NIỆM NHỨT-THIẾT CHƯ PHẬT CẢNH-GIỚI
TRÍ-HUỆ QUANG-MINH PHỔ-KIẾN”. Còn gọi là: “PHỔ-QUANG MINH TRÍ” SÁT-NA TẾ TAM MUỘI.”
Cảnh
giới nầy, cũng giống như LỄ PHẬT “không còn năng lễ sở lễ”.
Năng lễ, sở
lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo-giao
nan tư nghì,
Ngã thử đạo-tràng
như Ðế-châu,
Thập phương
chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh
hiện chư Phật tiền,
Ðầu diện tiếp
túc quy mạng lễ.
Tóm
lại, nếu “Qúy-vị” tu Tử Liên Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp, không còn năng niện sở niệm,
thì gặp được chư Phật ở 10 phương “TỊNH ĐỘ”
làm “THIỆN TRI THỨC”.
VÌ
gặp được 10 phương chư Phật làm “THIỆN TRI THỨC”, nên được pháp Giải-thoát không thể nghĩ bàn, mau chứng qủa
Bồ-đề của Phật, rồi mới “TỰ-TẠI” vào Lục-đạo
để cứu độ tất cả Chúng-sanh “MÀ KHÔNG BỊ THOÁI CHUYỂN”, hoặc “THUẬN” hoặc “NGHỊCH”
tùy ý của “QÚY-VỊ”.
Kệ tụng:
Vi diệu nan tư Tử-liên-hoa
Bồ đề Tốc chứng Giải thoát pháp
Diện kiến thập phương Phật-đà-da
Tùng kim Bất lạc Lục đạo gia.
With the miraculous, inconceivable Purple Lotus Flower,
We attain Bodhi quickly, the Dharma of liberation.
We meet the Buddhas of the ten directions,
And never again descend into the homes of the six paths.
Phật Ra Xá Da [40]
Án-- tát ra tát ra, phạ nhựt-ra ca ra, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
Kinh sách
tham khảo:
1) Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Phẩm
Nhập Pháp Giới
Phẩm
Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện
2) Kinh
Đại-Bát Niết-Bàn
3) Kinh
Nhật Tụng
GREAT COMPASSION MANTRA
40. BHARASHÁYA
Above, in BALASHÁRI (BA
LA SÁ RI), SHÁRI (SÁ RI) had the meaning of “body seeds.”
In BHARASHÁYA (PHA RA SÁ DA), SHÁYA (SÁ
DA) means “elephant.” When your heart is enlightened, you are the Elephant
Prince, which is to say the Dharma Prince. You can be the dharma-door’s very
highest Dharma King. The general
meaning of this sentence of the mantra is “the most lofty elephant prince with
an enlightened heart.”
The sentence BHARASHÁYA speaks of the original body of Amitabha
Buddha. Amitabha Buddha is the Bodhisattva Who Regards the World’s Sound’s
teacher. Since the Bodhisattva is also reverent toward his master, he pays
respect to him in speaking the Great Compassion Mantra. In this sentence, Amitabha Buddha emits
light to illumine the one who holds the mantra.
BHARASHÁYA is the Purple Lotus Hand and Eye. In the
Forty-two Hands and Eyes are a White Lotus Hand and Eye, a Blue Lotus Hand and
Eye, a Purple Lotus Hand and Eye, and a Red Lotus Hand and Eye. When you cultivate this Hand and Eye you can
meet the Buddhas of the ten directions. For this reason, the Purple Lotus Hand
and Eye is extremely important.
40.
Phật Ra Xá Da
Ở
câu trên, Phật ra xá lợi. “Xá lợi”dịch nghĩa là “Giác thân tử”. Còn trong câu
Phật ra xá da, “xá da” dịch là “Tượng”: con voi. Nghĩa là khi quý vị đã giác ngộ
rồi, thì tâm thể quý vị được ví như một con voi chúa, còn được gọi là Pháp
vương tử. Quý vị có thể là Pháp vương tối cao trong tất cả các pháp môn. Nói
chung, ý nghĩa của câu chú này là: Tâm giác ngộ như một tượng vương cao quý.
Phật
ra xá da là nói về bổn thể của đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà là bổn sư của
Bồ tát Quán Thế Âm. Vì Bồ tát Quán Thế Âm tỏ lòng tôn kính đức bổn sư của mình
nên Bồ tát đã đảnh lễ đức Phật A Di Đà trong khi tuyên thuyết chú Đại Bi. Nên đức
Phật A Di Đà phóng hào quang để tiếp độ cho người trì chú này.
Phật
ra xá da là Tử-liên-hoa thủ nhãn ấn pháp. Trong bốn mươi hai thủ nhãn, có Bạch
liên hoa thủ nhãn, Thanh liên hoa thủ nhãn, Hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp. Khi
hành trì thành tựu các ấn pháp này, hành giả sẽ được diện kiến mười phương chư
Phật. Vì vậy Tử liên hoa thủ nhãn ấn pháp rất trọng yếu.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
40. PHẬT RA XÁ DA
PHẠ RA SAY DA.
(BHARASHÁYA)
Bổn-thân đức Phật A-Di-Đà.
Đây là bản-thân Phật A-Di-Đà thầy của đức Quán-Thế-Âm Bồ-tát.
Contemplating Sounds’ teacher is the Host, Amitabha Buddha,
Whose forty-eight vows transform the Saha world.
Ultimate Bliss is reached through nine kinds of rebirth on three levels.
The Mahayana is expressed in the flowing water and blowing wind.
Quán-âm Sư chủ A-di-đà
Tứ thập Bát nguyện Hóa Ta bà
Tam bối Cửu phẩm Sanh Cực lạc
Thủy lưu Phong động Diễn Ma ha.
Bổn-thân đức Phật A-Di-Đà, Đấng Tử-tượng, hiện Tử-liên-hoa-thủ-nhãn.



Comments
Post a Comment