20. The Jeweled Mirror
Hand and Eye
The Sutra says: “For great
wisdom, use the Jeweled Mirror
Hand.”
The Mantra: Shr nwo shr
nwo
The True Words: Nan. Wei
sa pu la. Nwo la ge cha.
Wa dz la. Man cha la. Hung pan ja.
The verse:
The
great perfect mirror-wisdom plumbs the Dharma-source;
Revealing
within it strange creatures, and snaring uncanny immortals.
Within
King Yama’s mirror evil karma is revealed.
A
Dharma jewel, the Mirror Hand, perfect the wisdom of all modes.
20.
Bảo-Cảnh Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn được trí huệ lớn, nên
cầu nơi Tay
cầm cái Kính-Báu.”
Thần-chú
rằng: Thất Na Thất Na [37]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- vỉ tát phổ ra, na ra các xoa,
phạ nhựt-ra, mạn trà
lả, hồng phấn tra.
Kệ
tụng:
Đại viên Cảnh
Trí cùng pháp nguyên
Chiếu yêu
kính lý tróc quái tiên
Diêm vương
kính trung ác nghiệp hiện
Pháp bảo
kính thủ chủng trí viên.
( Đại
Viên Cảnh Trí thông suốt cùng tận cội nguồn của tất cả Pháp.
Trong “KÍNH
CHIẾU YÊU”, Yêu-quái hiện nguyên hình, tùy ý ta bắt giữ hoặc tha đi.
Như KÍNH của
DIÊM VƯƠNG, ác nghiệp trong một đời đều hiện, không chối cải được.
Tu Bảo-Cảnh
Thủ Nhãn Ấn Pháp, thì thành tựu “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ.”)
“ĐẠI VIÊN CẢNH
TRÍ” là do chuyển
thức “A LẠI DA” mà thành, có khả năng Phổ-chiếu khắp 10 phương cõi nước, nên
thông đạt tất cả Pháp, hàng phục được Yêu-quái, tiêu trừ được Vô-minh vi tế (sở
tri chướng), vậy nên thành tựu được “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”.
Bất động địa
tiền tài xả tạng
Kim cang đạo
hậu Dị thục không
Đại viên vô
cấu đồng thời phát
Phổ chiếu thập
phương trần sát trung.
( BÁT THỨC QUI CỦ TỤNG )
Khi
đến địa vị thứ 8 của hàng Bồ-tát (Bất động địa), thì không gọi thức này là “TẠNG
THỨC” (A LẠI DA THỨC), mà gọi là “DỊ THỤC
THỨC”.
Khi
đến địa vị Đẳng-giác (KIM CANG ĐẠO), THÌ KHÔNG GỌI LÀ “DỊ THỤC THỨC”, MÀ GỌI LÀ
“VÔ CẤU THỨC”.
Đại viên vô
cấu đồng thời phát
Phổ chiếu thập
phương trần sát trung.
TỨC
LÀ THÀNH TỰU “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”, LÀ THÀNH “PHẬT”.
Lại
nữa, trong “BÁT NHÃN TÂM KINH” nói rằng
:
Thị
cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức ( không có ngũ-uẩn); vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp ( không có
12 nhập); vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới (không có 18 giới); vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử tận (không có 12 nhân
duyên); vô khổ, tập, diệt, đạo (không
có 4 đế) ; vô trí diệc vô đắc (không
có trí của Bồ-tát do tu Lục-độ, cũng không có đắc qủa Phật).
Lại
nói, Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
(Ba đời
“Chư Phật” y “VÔ SỞ ĐẮC”, mà đắc “PHẬT QỦA”)
Còn
nói, Bát-nhã là Đại-thần, là đại minh, là vô-thượng, là vô đẳng đẳng chú...như
lại phải nhờ thần-chú “Yết-đế Yết-đế,
Ba-la yết-đế, Ba la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha.”, để tiêu trừ vô-minh vi tế của “A LẠI DA THỨC”
(sở tri chướng), mà thành tựu “ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ” hay “NHẤT THIẾT CHỦNG
TRÍ”, TỨC THÀNH PHẬT.
Kinh
Pháp Hoa nói, muốn “NHẬP PHẬT TRI KIẾN”, phải nhờ thần lực gia trì, phẩm “ĐÀ RA NI” THỨ 26.
Kinh
Lăng Nghiêm cũng nói: Thị cố nhữ kim tri
kiến lập tri tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến, tư tức niết-bàn vô lậu chân tịnh.
Vân hà thị trung cánh dung tha vật?
HÒA
THƯỢNG TUYÊN HÓA Giảng: Vậy nay chính ông ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri
kiến. Các ông lập nên một tri kiến khác trên cái tri kiến vốn đã là hư vọng. Đó
tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là
vô lậu chân tịnh niết-bàn. Ông đã nhận ra rằng tri kiến của mình vốn là không
có tự thể, thế nên ông không khởi một niệm tưởng nào căn cứ trên tri kiến ấy.
Ngay
trong tri kiến ấy mà không khởi một niệm
tưởng phân biệt nào chính là tương ưng với Đạo. Đó chính là niết-bàn vô lậu
chân tịnh. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Trong chỗ vắng bặt tri kiến,
làm sao còn dung chứa một thứ gì khác? Nơi ấy chính là bản nguyên thanh tịnh
pháp giới. Tại sao ông lại muốn đưa thêm một thứ gì nữa vào trong đó? Tại sao lại
chồng thêm tri kiến lên trên tri kiến? Nguyên lý nầy cũng như trong đoạn kinh
trước đã nói, “Bản giác vốn là diệu minh, nhưng hư vọng nên thành minh giác.”
Cho
nên “Kinh Lăng Nghiêm” nói : “ Tất cả
Chư Phật trong 10 phương, đều do “TRÌ”
CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM mà được thành Phật. Nghĩa là Bồ-tát Đẳng-giác muốn
thành PHẬT, thì nhất định phải trì chú LĂNG NGHIÊM, để tiêu trừ vô-minh vi tế của
“A LẠI DA THỨC”.
Tóm
lại, nếu Qúy-vị trì “BẢO CẢNH THỦ NHÃN ẤN PHÁP” thì thành tựu:
1)
“ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ” hay “NHẤT THIẾT CHỦNG
TRÍ”, TỨC LÀ THÀNH PHẬT.
2) Thông đạt cội nguồn của tất cả “PHÁP”.
3) Tiêu trừ tất cả ác nghiệp, tập khí khó
trừ trong vô-lượng khiếp.
4) Hàng phục được yêu quái, ngoại đạo, tà
ma…
Đại-viên-cảnh-trí Cùng pháp nguyên
Chiếu yêu Kính lý Tróc quái tiên
Diêm vương kính trung Ác nghiệp hiện
Pháp Bảo Cảnh Thủ Chủng trí viên.
The great perfect mirror-wisdom plumbs the Dharma-source;
Revealing within it strange creatures, and snaring uncanny immortals.
Within King Yama’s mirror evil karma is revealed.
A Dharma jewel, the Mirror Hand, perfect the wisdom of all modes.
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
GREAT COMPASSION MANTRA
37. SHINA SHINA
This sentence means “great wisdom.” It also means “vast vows.”
This is the Jeweled Mirror Hand and Eye.
The Jeweled Mirror is an analogy for the Buddha’s Great Perfect Mirror Wisdom.
What is great wisdom? It is the absence of the false thinking
which living beings engage in. With great wisdom, all thinking is an expression
of genuine Prajna wisdom, wisdom of great bright light. If you have genuine
wisdom, you will have bright light, but if you do not, you are stupid and dark.
Bright light is YANG (POSITIVE)
light, whereas darkness is YIN (NEGATIVE)
energy. Why is one stupid? Because one’s NEGATIVE energy level is too high. Why
is one wise? Because one’s POSITIVE light is greater.
Those with great wisdom do not think like common, ordinary
people. They can clearly distinguish right from wrong. They don’t need to ask
anyone else; they know it on their own. They do not take the wrong road; they
advance down the right road and cultivate. In cultivation, you must first have
great wisdom. Then you will clearly know right from wrong so that you can go
down the right road and retreat from the wrong road.
But you can’t clearly know that an action is wrong and yet
insist on doing it. You can’t clearly know that an action is a violation of the
precepts, but go ahead and do it anyway, just to try it out, just to see if it
really is an offense. Such behavior is the height of stupidity and shows a
complete lack of wisdom.
“oh no,” you may object. “I have wisdom. I just did it wrong
that one time.”
Doing it wrong that once just means that you are stupid and have
no wisdom. People with great wisdom have no perverted thoughts. So Ananda the
Venerable said,
“Destroy my million aeons of perverted thinking.
So that I needn’t pass through uncountable aeons to attain the
DharmaBody.”
A million aeons, not just one, two, three, four, five or a
hundred aeons, but an unreckonable number of aeons’ worth of perverted
thinking, he wishes to destroy.
But why are our hearts so full of false thinking? When one false
thought passes away, another takes its place, and when that one passes away yet
another comes. It’s just like the waves on the ocean.
You may think that ocean is an inanimate object, but actually it
is not outside of our own hearts. It is contained within the hearts of living
beings. The waves on the sea never stop rising and falling, and in just the
same way, our false thinking never stops. It continues, one false thought after
another, one after another, around and around and on and on, in a ceaseless,
never-ending stream. And none of them wants to fall behind; they all race to
the front. Why are you riddled with such false thinking?
It’s just because you
have no wisdom. If you were wise, there would be no waves on that water.
The
winds may rise, but they blow in vain,
For
there are no waves on the water.
When you attain samadhi power in
cultivation, it is like the ocean
without any waves. When you have concentration,
the water of wisdom manifests without a single wave, without a single
false thought.
That is a time of true purity and clarity. Truly, one is not
defiled by a speck of dust and the myriad lands all are empty. That is the
manifestation of great wisdom.
People with great wisdom are successful in all they do, people
without it fail in all their undertakings. Therefore, wisdom is of the utmost
importance.
What is stupidity? Ignorance is stupidity; stupidity is just
ignorance. When ignorance arises, people become unclear. You may ask people who
have done something wrong: “why did you do that?” and they may reply, “ I don’t
know…” Just that is stupidity, the
absence of wisdom and understanding. But, although they act wrongly out
ignorance, they won’t admit their ignorance. “I know!” they insist. “I know it
was wrong it’s extremely strange. Stupid people simply don’t have the Perfect
Mirror Wisdom and they haven’t cultivated the Jeweled Mirror Hand and Eye. If
they had, they wouldn’t be stupid, no matter what happened.
If
the demon comes, slay the demon;
If
the (phony) Buddha comes, slay the Buddha.
(Phật “THẬT”, thì không từ đâu đến cũng không đi về đâu.-KINH
KIM CANG)
This is just like holding a knife so sharp that it cuts right
through anything it comes in contact with. Great wisdom is like a knife; it is
also like a sword.
“The wisdom sword is very
heavy,” you may say. “It’s not easy to pick it up.”
That’s just because you haven’t picked it up. If you had, you’d
have found out that it doesn’t take the least bit of effort. If you don’t pick
it up, it’s heavy. If you pick it up, it’s light. If you don’t pick it up, what
is light becomes heavy. If you do pick it up, what is heavy becomes light. Why?
Because you picked it up!
If you say, “I know that the wisdom sword is important, but it’s too heavy. I can’t lift
it,” and so you don’t lift it, then it is indeed very heavy. But if you just
reach out, grasp it, and pick it up, then all states are understood as they hit
the blade, without the slightest problem. So I often tell you that “Everything
’s okay.” It is just that principle. If everything is not okay with you, it’s
because you don’t have a wisdom sword. If you had one, there would be no
problems whatever. What problems could there be? None at all. The wonderful is
right at this point.
The mountains, rivers, land, buildings, the
Dependent-retribution World as well as the Proper-retribution World-- all do not go beyond the present thought
within our hearts.
What is the Dependent-retribution World? The mountains, rivers,
the great earth, and all the buildings are
called the Dependent-retribution World. Proper-retribution World is our bodies,
which are undergoing retribution proper. If you can understand retribution
while undergoing it, you will be without ignorance. The absence of ignorance is
wisdom. This can be compared to a mirror:
When
an object comes, it reflects it.
When
it goes, the mirror is clear.
It doesn’t hold on. People with wisdom will take care of matters
and then let them go; their hearts don’t hold on to them. Although they don’t
keep them, there are always manifest and although they are constantly manifest
they are not kept. We common people who have no wisdom must make a special
effort to remember something, or perhaps recite it a few times: “YHY, YHY,
SHINA, SHINA …” We recite it once and
forget it, recite it twice, three times, several hundred times, and we still
can’t remember it. This is forcing it. It is not forced when you can see it
once and not forget it, when it passes by your eyes once and is never
forgotten, because your wisdom is like a mirror.
36. YHY YHY
37. SHINA SHINA
Those of you with wisdom should know that everything is
contained within your heart. If you know this, you won’t be greedy, hateful,
stupid, arrogant, or full of doubt. Why not? Because everything is manifest
from the heart; these are all things which your heart originally possesses.
Whether good or bad, it’s no problem. Nothing presents any problem.
Although it is easy to talk about such a state, reaching it
takes a bit of skill. It takes skill to reach that level. Those without skill
who say, “Nothing is any problem for me,” may outwardly appear to have no
problems, but problems arise internally and they fight with themselves. Those
who have genuine wisdom are very few.
You should also know that
there are people with worldly wisdom and people with transcendental wisdom.
Those who have great worldly
intelligence can fashion a principle when the need arises. Where there is no
principle, they can make one up, one which sounds very reasonable. When stupid
people hear it, they think, “He’s not bad. What he says makes a great deal of
sense.” Actually, if you had genuine wisdom, you would not be drawn into
stupidity by him. The stupid doctrines which he speaks would not make you
stupid as well. It is said, “Within the positive there is negative.” Within wisdom there is
stupidity-- stupid wisdom.
One the other hand, “within the negative there is positive.”
Inside of stupidity there is wisdom. For example, you may see someone who doesn’t speak much and
seems very ordinary, but he does things
properly. He may appear to be stupid and clumsy, but he always acts in accord
with principle. There are many such people. In observing other people, you will
find out whether or not you, yourself, have wisdom. If you have genuine wisdom,
you won’t be led by others into stupidity; if you don’t have it, you will. So
it is with wisdom and so it is with everything else.
Wisdom and stupidity have a direct relationship. The absence of
stupidity is wisdom, and the absence of wisdom is stupidity. Stupidity itself
is wisdom and wisdom itself is stupidity. How can this be? Wisdom and stupidity
are one. If you can use it, it is wisdom; if you can’t it’s stupidity. For
example, if you pick up the wisdom sword, that’s wisdom; if you put it down,
it’s stupidity. There aren’t two things; there is only one. So don’t say that
you’re going to seek wisdom and chase out stupidity. It doesn’t work that way. It’s just a matter of “turning
it over.”
Let’s say that the palm of the hand represents wisdom and the
back of the hand represents stupidity. If you try to pick something up with the
back of your hand, you won’t be able to do it, but if you use the palm of your
hand, you will. Not being able to pick things up is stupidity and being able
to pick them up is wisdom. It’s one
thing with two sides and it’s up to you which side you use. Do you understand?
Someone says, “I understand the BuddhaDharma now! Wisdom and
stupidity are my hand!” Wrong again! The hand is an analogy. Don’t think that
wisdom and stupidity are themselves the hand. It’s like the analogy of the
finger and the moon. When someone points to the moon, don’t mistake the finger
for the moon.
SHINA SHINA means “great wisdom” and “vast vows.” Vows are made in order to accomplish
something. For example, before Amitabha
Buddha had realized Buddhahood, when he was cultivating on the causal ground as
a Bhikshu, he made Forty-eight Great Vows. The Bodhisattva Samantabhadra also
made Ten Kingly Vows. The Bodhisattva Who Regards the World’s Sounds also made
many vows, and so did the Patriarchs. I’m telling you about vows, but whether
you make vows or not is up to you. I’m
bringing the subject up because I know that you don’t understand, but it’s not
up to me to force you to make vows. Now that we are studying the BuddhaDharma,
everyone should make his own vows, the gigger the better. The greater your vow
power is the greater your accomplishment will be. We are now studying Buddhism
in the causal ground and have not yet realized Buddhahood; we should make our
vows in the causal ground. Each of you should write them out in detail. Don’t
be sloppy or vague about it or just blurt out, “I vow to save living beings!”
Really? How are you going to save them? All you do all day is
think about wearing good clothes, eating well, and living in a nice place,
saving the living beings in your mouth, in your stomach, and on your body. That’s
not allowed. You must be specific about the vows that you make and about what
they involve now and in the future. As for the past, we’ll forget about whether
you applied effort and cultivated. What are you going to do in the future? Each
and every one of you should make vows. The greater the vows you make now, in
the causal ground, the greater your position will be in the result. If you put
all your vow power in a hair pore, you can make a great vow from within a hair
pore!
Vows are solemn promises and all who study Buddhism should make
them. They are important because without them you have no guidelines. It’s like
walking down the road without knowing where you are headed or whether you are
walking in the right direction. If you make vows, you have a guide like a
traveler who has a guide to show him around.
Why did all the Buddhas and Bodhisattvas make vows while
cultivating the Way? It’s because once one has made vows, one can conduct
oneself according to them. For example, white in the causal ground, Earth Store
Bodhisattva made a number of vows. He said.
If
the hells are not empty,
I vow not to become a Buddha;
When
all living beings are saved,
only then will I certify to Bodhi.
The power of his vows is extremely great! We should also make
vows. Each of you should make vows in accordance with what you would like to
do.
37. Thất
Na Thất Na
Câu chú này được dịch là “Đại trí huệ”, cũng dịch
là “Hoằng thệ nguyện”. Đây là Bảo
cảnh thủ nhãn ấn pháp. Bảo cảnh được ví như Đại viên cảnh trí
của chư Phật.
Đại trí huệ là gì? Đó là khi chúng sanh không còn
dính mắc vào vọng tưởng nữa. Có đại trí huệ, thì mỗi niệm đều là biểu hiện của
trí bát nhã, mỗi tâm niệm đều lưu xuất từ Đại Quang Minh. Nếu quý vị có trí huệ
chân chính thì sẽ có được Quang Minh. Còn nếu chưa thể nhập trí huệ tự tánh,
thì vẫn còn trong màn tối tăm của vô minh.
Quang minh là ánh sáng dương, còn bóng tối vô minh
là âm. Tại sao người ta ngủ tối? Bởi vì lực âm trồi lên quá mạnh. Do đâu người
ta có trí huệ sáng suốt? Bởi vì ánh sáng dương lớn mạnh hơn.
Những người có trí huệ không có lối suy nghĩ như
những kẻ phàm phu. Họ có khả năng phân biệt rõ ràng chính tà. Họ không cần phải
hỏi người khác, họ biết mọi điều ngay nơi tự thân của mình. Họ không đi vào con
đường tẻ, họ bước đi vào ngay chính lộ và hạ thủ công phu. Trong khi hành trì,
trước tiên quý vị phải đạt được trí huệ. Rồi quý vị phải biết rõ ràng chính tà
để rồi mới tiến vào con đường chánh lộ và tránh con đường tà vạy.
Nhưng quý vị không thể nào biết rõ việc làm nào hư
ngụy nên cứ mãi khăng khăng tạo nghiệp ác. Quý vị kôhng thể nào biết được rõ
ràng thế nào là phạm giới, nên cứ thế mà làm, ráng hết sức để làm cho được, cứ
muốn nhìn cho được dù thực sự đó là những thứ chướng ngại. Những hành vi như
thế là sự ngu muội tột cùng, biểu lộ hoàn toàn sự non yếu trí huệ.
Ồ! Không – Quý vị có thể phản đối – Tôi là người có
trí huệ, tôi chỉ sai lầm trong nhất thời thôi!
Chỉ sai lầm một lần thôi cũng có nghĩa là vô minh,
không có trí huệ rồi. Người có đại trí huệ không hề có tư tưởng sai lầm. Thế
nên Tôn giả A Nan đã phát nguyện:
Tiêu
ngã ức kiếp điên đảo tưởng
Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân.
Nghĩa là:
“Giúp cho con tiêu trừ vọng tưởng sai lầm trong
muôn ức kiếp”.
Khiến con chẳng cần trải qua a tăng kỳ kiếp mà chứng ngộ được pháp thân”.
Tôn giả đã phát nguyện tiêu trừ vọng tưởng không
những chỉ một, hai, ba, bốn, năm hay một trăm kiếp nhưng trong vô số kiếp.
Nhưng tại sao trong tâm ta lại có quá nhiều vọng
tưởng như thế? Khi một vọng tưởng đi qua, vọng tưởng khác kế tiếp theo, và khi
vọng tưởng ấy tiêu mất, vọng tưởng sau lại sinh khởi tiếp nối. Giống như sóng
trên mặt biển. Quý vị cứ nghĩ rằng đại dương là vật vô tình, nhưng thực sự nó
chẳng phải là thứ ở ngoài tâm quý vị mà có. Biển cả cũng được lưu xuất từ trong
tâm niệm của chúng sanh.
Sóng biển không ngừng nổi lên rồi chìm xuống, cũng
hoàn toàn giống như vọng tưởng của chúng sanh chẳng bao giờ ngừng. Nó liên tục
mãi. Vọng tưởng trước vừa biến mất, vọng tưởng sau liền tiếp nối, vọng tưởng
này tiếp nối vọng tưởng kia, xoay vần tương tục, nối theo nhau không dứt, như
dòng thác không bao giờ ngừng. Không có vọng tưởng nào muốn rơi lại đằng sau
cả, chúng đều hoàn toàn muốn phóng vọt lên phía trước. Vì sao mà quý vị lại mắc
phải quá nhiều vọng tưởng như vậy? Chỉ vì không có trí huệ. Nếu quý vị có trí
huệ, thì chẳng còn mảy may vọng tưởng và sóng cũng không còn xao động nữa. Như
trong câu thơ:
Thanh
phong đồ lai
Thủy ba bất hưng
Nghĩa là:
“Gió trong lành thổi đến,
Biển không còn sóng xao”.
Khi trong công phu mà quý vị đạt được định lực,
cũng như sóng biển đã lặng yên. Khi có được định lực thì nước trí huệ hiển
hiện, không còn một gợn sóng, chẳng còn một niệm vọng tưởng nào nữa. Lúc đó là
thanh tịnh chân thực. Đó là lúc:
“Nhất
trần bất nhiễm
Vạn lự giai không”
Thực vậy, khi một người không còn bị vướng dù chỉ
một hạt bụi vô minh thì chẳng còn phải lo nghĩ một điều gì nữa cả, mọi thứ trên
đời này đều là không. Đó chính là biểu hiện của đại trí huệ.
Người có trí huệ thường thành công trong bất kỳ mọi
việc, còn người thiếu trí huệu thường bị thất bại trong bất kỳ việc gì mà họ
nhúng tay vào. Do vậy nên trí huệ là vô cùng quan trọng.
Ngu muội là gì? Vô minh chính là ngu muội. Ngu muội
cũng chỉ là từ vô minh mà ra. Khi vô minh sinh khởi, con người hoàn toàn bị mất
sáng suốt. Quý vị hãy hỏi một người vừa mới làm một việc sai lầm xong thì rõ:
- Tại sao anh lại làm việc đó?
Họ sẽ trả lời:
- Tôi không rõ nữa …
Đó chính là do ngu muội, do sự thiếu sáng suốt,
thiếu trí huệ. Nhưng dù họ hành động mê lầm do vô minh, nhưng họ lại không chịu
từ bỏ vô minh. Họ lại khăng khăng:
- Tôi biết chứ. Tôi biết nó sai mà! Thật là quái
lạ. Con người mê muội chỉ do vì không có trí huệ, không đạt được Đại viên cảnh
trí, vì họ không chịu công phu hành trì Bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Nếu họ tu
tập ấn pháp này, thì sẽ không còn ngu muội nữa; bất luận chuyện gì xảy ra. Đó
là khi: -
Phùng quỷ sát quỷ
Phùng Phật sát Phật
Đây cũng như việc cầm một cây dao thật bén, chặt
ngay mọi vọng tưởng vừa lóe lên. Đại trí huệ cũng như một con dao bén hay còn
được ví như thanh gươm.
Quý vị có thể nói: “Gươm trí huệ rất nặng, không,
không dễ gì cầm kiếm ấy được”! Đó là vì quý vị chưa từng cầm nó. Thực ra, sử
dụng kiếm này chẳng cần sử dụng chút sức lực nào cả. Nếu quý vị chưa từng cầm
nó lên thì thấy nó quá nặng. Nếu quý vị đã cầm lên rồi, thì thấy nó nhẹ. Nếu
quý vị không chịu cầm lên, thì nhẹ biến thành nặng. Nếu quý vị chịu cầm lên,
thì nặng biến thành nhẹ. Sao vậy? Vì quý vị đã cầm lên rồi!
Nếu quý vị nói: “Tôi biết rằng gươm trí huệ rất
quan trọng, nhưng quá nặng. Tôi không thể nhấc lên nổi”. Và quý vị không sờ tới
gươm. Thế nên gươm trí huệ càng nặng thật. Nhưng một khi quý vị đã sờ vào kiếm,
đã vung gươm lên rồi thì mọi sự hiểu biết đều bén nhọn như lưỡi gươm, chẳng còn
một chút rắc rối nào nữa cả. Thế nên tôi thường nói với quý vị rằng:
“Mọi việc đều tốt đẹp cả”. Chính là phát xuất từ
đạo lý này. Nếu quý vị gặp nhiều việc rắc rối, là vì quý vị không có thanh gươm
trí huệ. Nếu quý vị có được thanh kiếm trí huệ ấy, thì sẽ chẳng còn chuyện gì
rắc rối nữa cả. Màu nhiệm là ở điểm này.
Núi sông đất liền, lâu đài nhà cửa, thế giới y báo
cũng như chánh báo đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện tiền của chúng ta.
Cái gì là thế giới ý báo? Núi sông, đất liền, lâu
đài nhà cửa gọi là thế giới y báo. Thế giới chánh báo là thân tâm của chúng ta,
chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận sự báo ứng. Nếu quý vị đã hiểu được
sự báo ứng khi chính mình thọ nhận, nghĩa là quý vị không còn vô minh nữa.
Không còn vô minh nghĩa là có trí huệ. Điều này được ví như tấm gương:
Vật
lai tắc ánh
Vật khứ tắc không.
Nghĩa là: “Vật đến liền chiếu. Vật biến hoàn
không”. Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả. Kẻ trí thường thản nhiên với mọi
chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì.
Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng,
nhưng mọi vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó thường tự hiển bày nhưng chẳng
hề bị vướng mắc.
Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có được đại trí
huệ, phải nỗ lực vượt bậc để thường nhớ trì tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm
câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”.
Khi đã tụng một lần rồi là không còn quên nữa, đã
tụng được hai, ba lần, vài trăm lần rồi thì chẳng thể nào quên được nữa. Đó là
phải cố gắng để ghi nhớ. Còn khi quý vị chỉ cần nhìn hoặc nghe lướt qua một lần
rồi nhớ mãi không quên, chẳng cần phải dụng công ghi nhớ nữa, đó là khi trí huệ
của quý vị chiếu sáng như một đài gương trong.
Người có trí huệ đều biết rằng mọi hiện tượng đều
lưu xuất từ tự tâm của mình. Nếu quý vị hiểu được điều này thì mình sẽ không
còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Sao vậy? Vì mọi sự việc đều lưu xuất từ tâm
mình, nên những thứ vui buồn giận ghét đều là sở hữu của chính mình. Dù nó tốt
hay xấu, cũng chẳng có vấn đề gì cả.
Mặc dù nói về cảnh giới ấy thì rất dễ, nhưng tiếp
xúc với cảnh giới ấy không phải dễ dàng gì, cần phải có công phu mới tiếp xúc
được với cảnh giới ấy. Những người không có công phu sẽ nói:
“Đối với tôi, chẳng có vấn đề gì rắc rối cả”.
Bên ngoài thì như thế, nhưng vấn đề rắc rối đang
phát sinh và chống đối với nhau ở bên trong. Những người có trí huệ chân chính
thì rất hiếm.
Quý vị cũng nên phân biệt rõ trí huệ thế gian và
trí huệ xuất thến gian. Trí huệ thế gian còn gọi là Thế trí biện thông, là có
thể nhào nặn ngay ra một đạo lý khi nào cần đến. Nơi nào không có đạo lý, họ có
thể tạo dựng ra, khiến mọi người nghe rất hợp lý. Những kẻ mê muội nghe họ nói
liền nghĩ rằng:
“Ồ! Họ đề cập đến những đạo lý rất đúng”. Thực ra,
nếu quý vị có được trí huệ chân chính, quý vị sẽ không bị đắm chìm trong mớ lý
luận ngu muội của họ. Người ta thường nói: “Trong dương có âm”.
Cũng vậy, trong trí huệ cũng có sự ngu muội – sự
ngu muội một cách trí huệ. Mặt khác, trong âm có dương. Bên trong sự ngu muội
ẩn chứa một trí huệ. Chẳng hạn như quý vị có thể thấy một người chẳng nói năng
gì cả, dường như là kẻ quê mùa dốt nát, nhưng anh ta làm những việc chân chính.
Anh ta có thể hiện thân một kẻ hồ đồ mê muội, nhưng luôn luôn ứng xử khế hợp
với đạo lý. Có rất nhiều người như vậy.
Khi quan sát người khác, quý vị sẽ tự chiêm nghiệm
ra chính tự thân mình có được trí huệ sáng suốt hay không. Nếu quý vị có trí
huệ chân chính, thì quý vị không bị người klhác sai sử, dẫn dắt đến chỗ sai
lầm. Còn nếu quý vị không có trí huệ, quý vị sẽ bị người khác xui khiến làm
điều xằng bậy.
Trí huệ và ngu muội có một mối quan hệ trực tiếp.
Đó là hai mặt của một chỉnh thể. Vắng bóng vô minh thì trí huệ hiển bày. Và vô
minh sinh khởi khi thiếu vắng trí huệ. Trong vô minh có trí huệ và chính trong
trí huệ có bóng dáng của vô minh. Sao lại như thế? Vì trí huệ và vô minh là
một.
Nếu quý vị biết vận dụng, thì đó là trí huệ. Còn
nếu không biết vận dụng thì đó là vô minh. Chẳng hạn như khi quý vị nâng thanh
gươm trí huệ lên thì đó chính là trí huệ; còn khi quý vị buông thanh gươm ấy
xuống thì đó là vô minh. Đó không phải là hai mà chỉ là một. Thế nên quý vị
đừng bao giờ nói rằng mình đang đi tìm kiếm trí huệ và đang xua đuổi vô minh.
Không ai làm được việc ấy bao giờ. Chủ yếu chỉ là sự “hồi đầu”.
Có thể lấy ví dụ của bàn tay để biểu tượng cho trí
huệ và mặt kia là biểu hiện cho vô minh. Nếu quý vị muốn cầm nắm một đồ vật
bằng mặt kia của bàn tay thì không thể nào làm được cả, nhưng nếu quý vị dùng
chính bàn tay của mình thì mới lấy được đồ vật. Việc không lấy được đồ vật là
biểu tượng cho vô minh và việc sử dụng bàn tay để lấy được vật là biểu tượng
cho trí huệ. Đó là hai khía cạnh của chỉ một ý nghĩa chung nhất, tùy thuộc vào
sự vận hành của quý vị.
Có người lại nói: “Nay tôi đã hiểu rồi. Vô minh và
trí huệ chính là bàn tay của tôi”. Lại sai lầm nữa! Bàn tay chỉ là ví dụ. Đừng
nên cho rằng trí huệ và vô minh chính là bàn tay. Cũng giống như ví dụ ngón tay
và mặt trăng (trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Đức Phật lấy ví dụ dùng ngón tay để
chỉ cho người thấy mặt trăng. Đừng nhầm lẫn ngón tay chính là mặt trăng.
Thất na thất na là “đại trí huệ” và còn có nghĩa là
“hoằng thệ nguyện” – là phát nguyện rộng lớn. Khi muốn hoàn thành một việc gì,
phải phát thệ nguyện làm cho đến cùng. Như đức Phật A Di Đà trước khi thành
chánh giác, khi đang tu tập nhân địa với hình tướng của một Tỳ kheo, Ngài đã
phát 48 lời nguyện rộng lớn. Bồ tát Phổ Hiền cũng đã phát 10 Đại nguyện Vương.
Bồ tát Quán Thế Âm cũng phát vô số lời nguyện cũng như các vị Tổ sư đã từng
phát nguyện. Tôi đang giảng cho quý vị nghe về việc phát đại nguyện.
Còn có lập nguyện được hay không là do ở quý vị.
Tôi đưa đề tài này ra giảng vì tôi đoán chắc là quý vị chưa được thông hiểu.
Nhưng không phải là tôi bắt buộc quý vị phải phát nguyện. Nay quý vị đang tu
học Phật pháp, mỗi người nên tự mình lập hạnh nguyện, càng lớn càng tốt. Lập
nguyện càng lớn thì sự thành tựu càng cao. Hiện nay chúng ta đều đang tu nhân
và chưa ai thành Phật cả, chúng ta nên phát lời nguyện ở nơi nhân địa mà tu
hành. Mỗi người nên viết rà lời nguyện của mình thật chi tiết. Đừng phát nguyện
một cách hời hợt, qua loa, cho có nguyện mà phải thiết thực như: “Con nguyện
cứu độ tất cả mọi loài chúng sanh”.
Thật chứ? Làm sao quý vị có thể độ chúng sanh được.
Khi suốt ngày quý vị cứ tìm mọi cách để được ăn ngon, mặc đẹp, ở nơi xa hoa
tráng lệ. Việc cứu độ chúng sanh trước hết là độ chúng sanh nơi cái miệng
chuyên nói lời vọng ngôn của quý vị, độ cái bụng ham ăn, độ cái thân ham thích
sung sướng của chính mình trước đã. Cho nên quý vị phải thẳng thắn và minh bạch
trong khi phát nguyện. Hiện tại mình phát nguyện gì? Tương lai sẽ ra sao?
Như ở trong quá khứ, chúng ta có thể quên lãng
những gì đã từng ứng dụng tu hành. Nhưng trong tương lai chúng ta sẽ thực hành
điều gì? Mỗi người Phật tử đều phải nên có lời phát nguyện. Nay ở trong nhân
địa, lời phát nguyện càng lớn thì trong tương lai, kết quả sẽ càng cao. Nếu quý
vị đặt tất cả nguyện lực của mình vào một lỗ chân lông, thì quý vị có thể phát
một thệ nguyện lớn ngay từ trong lỗ chân lông.
Phát nguyện là một lời hứa thiêng liêng mà mọi
người Phật tử đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan trọng, vì không có nó
cũng như không có người hướng dẫn. Giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi
hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị
phát nguyện, cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến.
Tại sao chư Phật và chư Bồ tát đều phát nguyện khi
tu đạo? Vì khi đã phát nguyện rồi, mình mới tự mình hành động tương ứng với
nguyện đã lập. Ví dụ như Bồ tát Địa Tạng khi tu hành ở nhân địa, Ngài đã phát
lời nguyện vĩ đại:
…“Địa
ngục vị không
Thệ bất thành Phật
Chúng sanh độ tận
Phương chứng Bồ đề”.
Nghĩa là:
“Chúng sanh độ hết
Mới chứng Bồ đề
Địa ngục nếu còn
Con chưa thành Phật”.
Nguyện lực này cực kỳ vĩ đại.
Chúng ta cũng nên phát nguyện. Mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với
những việc hằng ngày quý vị thích làm.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
37. THẤT NA THẤT NA
SI-NA, SI-NA.
(SHINA SHINA)
Ngài Ca-Na Ma-Tướng Thiên-Vương.
Appearing to be good, appearing to be evil, he gathers in all beings.
Now complying, now defying, he subdues our natures.
Returning to the source involves curing our own faults.
That way, our maha prajna wisdom gets brighter by day and by night.
Thị thiện Thị ác Nhiếp chúng sanh
Hốt thuận Hốt nghịch Chiết tánh linh
Phản bổn Hoàn nguyên Tu chư kỷ
Ma-ha Bát-nhã Nhật dạ minh.
Ngài Ca-Na Ma-Tướng Thiên-Vương, Đấng Đại-trí-hoằng-thệ hiện Bảo-cảnh-thủ-nhãn.



Comments
Post a Comment