THE FORTY-TWO HAND AND EYE
2. The
Lariat Hand and Eye
The Sutra says: “For
seeking peace and tranquility in all
unrestful
situations, use the Lariat Hand.”
The Mantra: Mwo la nwo
la.
The True Words: Nan. Jr
li lai la. Mwo nai la. Hung pan ja.
The verse :
The
Lariat Hand is a demon-binding cord.
Strange
ghosts and externalists find it hard to disappear,
For
Krakuchanda’s Dharma jewel has many
transformations.
Drive
out the deviant, support the proper. --These secret words
are magic.
2.
Quyến-Sách Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu bị các việc khuấy rối, muốn
được an ổn,
nên cầu nơi Tay cầm dây Quyến-Sách.”
Thần-chú rằng: Ma Ra Na Ra [62]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng
phấn tra.
Kệ
tụng :
Quyến sách
thủ thị khổn ma thằng
Bàng môn quỉ
quái nan độn hình
Câu lưu pháp
bảo đa biến hóa
Trừ tà phù
chánh bí văn linh.
(Tay cầm dây
QUYẾN SÁCH để buộc loài ma.
Tà Môn qủi
quái hiện nguyên hình.
Pháp bảo Câu
lưu nhiều biến đổi.
Trừ tà ma hộ
chánh pháp vừa “BÍ MẬT” vừa “HIỂN LINH”.)
"Ma"
cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối đạo tâm, cuồng loạn mất
chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác rồi kết cuộc bị sa đọa.
Những việc
phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết Bàn, gọi là Phật sự. Các
điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong vòng sống chết
luân hồi, là Ma sự.
Người tu
càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Ma tuy
nhiều, nhưng kết yếu chỉ có ba loại là: Phiền Não Ma, Ngoại Ma và Thiên Ma.
Cho nên, nếu
QÚY VỊ thường trì QUYẾN SÁCH THỦ NHÃN ẤN PHÁP, thì không bị khuấy rối bởi PHIỀN
NÃO MA, NGOẠI MA và THIÊM MA và thường được AN ỔN TU HÀNH cho tới khi thành VÔ
THƯỢNG GIÁC, tức là thành PHẬT vậy.
The
Lariat Hand is a demon-binding cord.
Strange
ghosts and externalists find it hard to disappear,
For
Krakuchanda’s Dharma jewel has many
transformations.
Drive
out the deviant, support the proper.--These secret words
are
magic.
Quyến
sách thủ thị khổn ma thằng
Bàng
môn quỉ quái nan độn hình
Câu
lưu pháp bảo đa biến hóa
Trừ
tà phù chánh bí văn linh.
2. Quyến-Sách Thủ Nhãn Ấn Pháp
Ma Ra Na Ra [62]
Ta-bà ha [63]
Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
UM! BÚT RUM! HÙM!
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
GREAT COMPASSION MANTRA
62. PRANILA
PRA
means “as-you-will.”
NILA
means “highly venerated.”
This is the Lariat Hand and Eye, which can bring peace to all
troubled situations, such as sickness, mishaps, or obstacles.
The Lariat Hand has many uses. You make a rope out of threads of
five colors, and when you have cultivated the Hand and Eye to perfection all
you have to do is throw the Lariat and lasso all the strange demons, ghosts,
monsters, 魑魅 LI MEI and 魍魎 WANG LIANG
ghosts. They won’t be able to get away because you’ve got them tied up. Since
they can’t get away, they will surrender. This is a wonderful Dharma, although
it looks very ordinary.
62. Ma ra na ra
Ma ra. Hán dịch là “Như ý”
Na ra. Hán dịch là “Tôn thượng”.
Đây là Quyến sách thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng mang lại sự an vui như ý đến cho hành giả, khiến cho các thứ bệnh tật, chướng nạn đều được tiêu trừ.
Quyến sách thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều diệu dụng. Hành giả có thể kết một sợi dây ngũ sắc rồi hành trì quyến sách ấn pháp vào sợi dây ấy. Thành tựu rồi thì khi phóng sợi dây này ra, các loài yêu ma quỷ quái, ly mỵ vọng lượng đều bị trói chặt. Không thể nào chạy thoát được. Từ đó sẽ tìm cách giáo hóa cho các loài ấy hồi tâm hướng thiện. Đây là diệu dụng của ấn pháp này. Mới xem qua thì có vẻ bình thường nhưng công năng thật khó lường.
Trong đạo giáo gọi ấn pháp này là “Khổn tiên thằng”.
63. SVAHA
In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings,
and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.
Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.”
If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish
and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only
because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true
faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of
disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have
accomplishment.
Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.”
When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you
must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They
know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve,
whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly
disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and
want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have
true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well,
you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response.
Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d
like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly
you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,”
and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good
friend, even a Good Knowing Advisor.
The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana--
when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say
that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become
completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to
die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness
means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the
extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and
Bodhisattvas can know your virtuous practice.
“ELIMINATING DISASTERS”
is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.
“AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is
especially beneficial.
I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.-- Why doesn’t anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.
When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.
Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.
63. Ta bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất
là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bất kỳ chữ
này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “Thành-tựu”.
Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không
bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết
phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tín. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc
khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn
gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “Viên-tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”.
Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm Vô-trụ là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở
trên, và vô vi chính là Vô-trụ.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí huệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ
chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí huệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được
hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là 6 nghĩa của Ta bà ha.
1. Thành-tựu
2. Cát-tường
3. Viên-tịch
4. Tức-tai
5. Tăng-ích
6. Vô-trụ
Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
62. MA RA NA RA
BƠ-RA NI-LA.
(PRANILA)
Bổn-thân ngài Bảo-Ấn-Vương Bồ-tát.
Đây là ngài Bảo-Ấn-Vương Bồ-tát tay cầm cây kim-phủ (búa vàng)
The Jeweled Seal Hand and Eye of this great Bodhisattva
And the golden ax shatter the root of ignorance.
All afflictions of sentient beings are completely cut off.
A delicate lotus wells forth from the ground.
Bảo-ấn-thủ-nhãn Đại bồ tát
Kim phủ Phách phá Vô minh gia
Nhất thiết hữu tình Phiền não đoạn
Tùng địa Dũng xuất Bảo-liên-hoa.
Bổn-thân ngài Bảo-Ấn-Vương Bồ-tát, hiện Quyến-sách-thủ-nhãn thành tựu sự Tôn-thượng Như-ý.
63. TA BÀ HA
SÓA HA.
(SVAHA)
Ngài Câu-Hy-La Bồ-tát.
Đây là ngài Câu-Hy-La Bồ-tát mang dép gai đạp lên song phát ra tiếng Hải-triều-âm.
Clad in straw sandals, he strides atop the waves. How boundless his Dharma!
His sound, like the ocean’s roar, awakens us from dreams and confusion.
Cowards muster their will; the greedy become incorruptible.
Du hý Thần thông Hóa tam thiên
Mang-hài Đạp-lãng Pháp vô biên
Phát hải Triều âm Kinh mê mộng
Nhu phu Lập chí Tham giả liêm.
Ngài Câu-Hy-La Bồ-tát, hiện Quyến-sách-thủ-nhãn thành tựu một cách Rõ-ràng.





Comments
Post a Comment