16. The Ax Hand and Eye
The Sutra says: “For
avoiding difficulties with the law at all
times and
in all places, use the Ax Hand.”
The Mantra: Syi lu seng e
mu chywe ye.
The True Words: Nan. Wei
la ye. Wei la ye. Sa wa he.
The verse:
Tortured
for a confession, even ghosts and spirits cry.
Taken
prisoner and put in jail, one’s innocence is hard to assert.
If
one wishes to be free from the pain of incarceration,
One
should cultivate the Ax Hand, and so remain at peace.
16.
Phủ-Việt Thủ Nhãn Ấn Pháp
Kinh
nói rằng: “Nếu muốn trong tất cả thời, tất
cả chỗ, lìa nạn
quan quân vời bắt, nên cầu nơi Tay cầm cây
Phủ-Việt.”
Thần-chú
rằng: Tất Ra Tăng A Mục Khê Da [64]
Chơn-ngôn
rằng: Án-- vị ra dã, vị ra dã, tát-phạ hạ.
Kệ
tụng:
Nghiêm hình
bức cung khấp quỉ thần
Hàm oan linh
ngữ lý nan thân
Nhược dục
thoát ly luy tiết khổ
Thả tu phủ
việt thủ an thân.
(Bị tra tấn
làm cho nhận tội, cho đến Qủy Thần cũng kinh sợ than khóc.
Một Người bị
gian trong tù, dù vô tội cũng rất khó minh oan.
Nếu muốn
thoát khỏi cảnh khổ đau “TÙ NGỤC” oan ức,
Thì nên tu
Tay-mắt cầm Cây Phủ-Việt, sẽ được an thân ra khỏi “NHÀ TÙ”.)
Đại-ý
Kệ-tụng nói: “Nếu Qúy-vị vô tội mà bị ở
tù, chịu nhiều nỗi khổ mà không thể biện minh được; hoặc là muốn từ đây về sau
sẽ không bị gian cầm vô cớ, thì Qúy-vị nên tu Phủ-việt thủ nhãn ấn pháp thì sẽ
được như ý nguyện”.
Còn
như nếu muốn dùng thủ nhãn này, ra khỏi “NHÀ LỬA” trong tam giới, còn gọi là
“NHÀ TÙ TRONG BA CÕI”, thì vẫn được như ý nguyện.
Kinh-văn:
Quán Thế Âm
Bồ Tát lại bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần
chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành chánh giác. Tụng
trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành
chánh giác.
Tụng trì thần
chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài tôi thề không thành chánh
giác. Tụng trì thần chú Đại Bi tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không
được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi tâm đà ra ni, duy trừ cầu những
việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành”.
Như
tại sao chúng ta phải ra khỏi nhà tù trong tam giới?
Vì
ở trong nhà tù tam giới, qủa thật chúng ta đã chịu sự đau khổ trong trăm, ngàn muôn ức A TĂNG KỲ KIẾP không
biết khi nào mới ra khỏi được? Thật là buồn thay !!!
Kệ
tụng:
Ba cõi không
an dường hỏa-trạch
Đâu miền
chân-lạc khỏi tang thương?
Người vô thường,
Cảnh vô thường!
Khuyên gọi
cùng nhau tỉnh mộng
Quay về bể
giác thanh lương.
Khởi lòng bi
trí
Nguyện độ mười
phương.
Ba tăng-kỳ
kiếp tu muôn hạnh.
Bền lòng
không thối chuyển
Cầu ngôi vị
Pháp-Vương!
BA A TĂNG KỲ KIẾP = 3 X (1027 X 1.280 triệu năm )
A TĂNG KỲ =1027 = 10 lũy thừa 27 = Một tỷ
tỷ tỷ năm
=1.000.000.000.000.000.000.000.000.000
KIẾP
thì theo thông lệ, nếu trong kinh không nói rõ là tiểu kiếp hay trung kiếp, thì
là “ĐẠI KIẾP”.
1
tiểu kiếp = 16 triệu năm = 16.000.000
1
trung kiếp = 20 tiểu kiếp = 320 triệu năm = 320.000.000
1
đại kiếp = 4 trung kiếp = 1.280 triệu
năm = 1.280.000.000
Ba
tăng kỳ kiếp tu muôn hạnh là chỉ cho Bồ-tát bất thối chuyển, trải qua 55 ngôi vị như sau:
1. Thập tín
2. Thập trụ
3. Thập hạnh
4. Thập hồi
hướng
5. Tứ gia hạnh
: Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất.
6. Thập địa
7. Đẳng giác
Nếu
tính lúc đầu là CÀN HUỆ ĐỊA và sau
cùng là DIỆU GIÁC THÌ PHẢI LÀ
57 NGÔI VỊ MỚI THÀNH VỊ PHÁP
VƯƠNG, TỨC LÀ THÀNH PHẬT.
Cũng
như, một vị TU ĐÀ HOÀN CHỈ CÓ 7 ĐỜI SANH
TỬ THÌ THÀNH A LA HÁN, KHÔNG CÓ ĐỜI SANH
TỬ THỨ 8. VÌ SAO? VÌ KHÔNG BỊ SẮC, THANH, HƯƠNG, VỊ, XÚC VÀ PHÁP CHI PHỐI NỮA,
NÊN KHÔNG BỊ THỐI CHUYỂN.
NGƯỜI
TRÌ CHÚ LĂNG NGHIÊM, THÌ KHÔNG TRẢI QUA “BA A TĂNG KỲ KIẾP” CŨNG CHỨNG ĐƯỢC
PHÁP THÂN, TỨC LÀ THÀNH PHẬT.
Diệu trạm tổng
trì bất động tôn,
Thủ Lăng
Nghiêm Vương thế hy hữu.
Tiêu ngã ức
kiếp điên đảo tưởng.
Bất lịch
tăng kỳ hoạch Pháp thân.
NGƯỜI
NIỆM PHẬT, THÌ KHI VÃNG SANH SẼ ĐƯỢC THỌ MẠNG BẰNG VỚI PHẬT A DI ĐÀ, CHỈ BỎ RA
“3 A TĂNG KỲ KIẾP” TU MUÔN HẠNH, THÌ ĐƯỢC THÀNH PHẬT. THẬT LÀ VUI THAY!!!
Kinh-văn:
“Xá-Lợi-Phất! Ðức Phật đó và nhân-dân của Ngài sống lâu
vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ kiếp, nên hiệu là A-Di-Ðà.”
NGƯỜI
TU 42 THỦ NHÃN VÀ TRÌ CHÚ ĐẠI BI THÌ KHÔNG THEO THỨ TỰ CHỨNG QỦA, CÓ THỂ TỪ SƠ
ĐỊA LÊN BÁT ĐỊA, CŨNG CÓ LUÔN NGÀN TAY NGÀN MẮT.
Kinh-văn:
Lúc đó tôi (Quán Thế Âm Bồ Tát) mới ở ngôi
sơ địa, vừa nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Bấy giờ tôi
rất vui mừng, liền phát thệ rằng: “Nếu trong đời vị lai, tôi có thể làm lợi ích
an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân tôi liền
sanh ra ngàn tay ngàn mắt.”
( Theo Thủ Nhãn cuối cùng trong Bốn Mươi Hai
Thủ Nhãn có tên là Tổng Nhiếp Thiên Tý Thủ Nhãn Ấn Pháp, hễ quý vị tụng Thủ
Nhãn này một biến, thì quý vị sẽ có thêm 42 cánh tay. Tụng mười biến thì được
420 tay; tụng một trăm biến thì được 4.200 tay. Nếu quý vị tụng một ngàn biến
thì sẽ có được 42.000 cánh tay, và cũng có luôn cả 42.000 con mắt.)
Cho
nên, Ta thấy rằng không chỉ là ngàn tay ngàn mắt, mà có thể có vô lượng tay mắt
để cứu độ vô lượng chúng sanh thoát khổ đau. Tuy phàm phu chúng ta không thấy,
như người có ngũ nhãn lục thông thì nhìn thấy, hoặc ma qủy có ngũ thông thì
cũng nhìn thấy.
Lại
như người “CHỨNG NGŨ NHÃN”, TUY QÚY
VỊ THẤY HỌ CHỈ CÓ 2 CON MẮT THƯỜNG THÔI; NHƯ PHẬT, BỒ TÁT VÀ THÁNH NHÂN, LẠI THẤY
HỌ CHỨNG ĐƯỢC NGŨ NHÃN. CŨNG ĐỒNG MỘT ĐẠO LÝ NHƯ TRÊN ĐÃ NÓI.
Tịnh ngũ
nhãn, đắc ngũ lực,
Duy chứng
nãi tri nan khả trắc.
Kính lý khán
hình kiến bất nan,
Thủy trung
tróc nguyệt tranh niêm đắc.
Kinh sách
tham khảo:
KINH
THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM
ÐÀ LA NI, KINH PHÁP HOA, KINH LĂNG NGHIÊM, KINH KIM CANG, KINH A DI ĐÀ, NIỆM PHẬT
THẬP YẾU, NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI, CHỨNG ĐẠO CA.
Tortured for a confession, even ghosts and spirits cry.
Taken prisoner and put in jail, one’s innocence is hard to assert.
If one wishes to be free from the pain of incarceration,
One should cultivate the Ax Hand and so remain at peace.
Nghiêm hình bức cung Khấp quỷ thần
Hàm oan Linh ngữ Lý nan thân
Nhược dục thoát ly Luy tiết khổ
Thả tu Phủ-việt Thủ an thân.
Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.
Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.
Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.
NGHI THỨC
HỒNG DANH BỬU SÁM
Bất-Động Pháp-sư Thuật
GREAT COMPASSION MANTRA
64. SHRISINHAMUKHAYA
SHRISIN means “accomplishment, loving
protection”—loving protection towards all living beings.
HAMUKHAYA means
“not empty, not rejecting.” Not empty refers to existence, but this existence
is wonderful existence.
Not
rejecting means that not one dharma is cast aside; all dharma are studied. So
it is said:
In
the practice of the Buddha’s work, not a single dharma is rejected;
In
the substance of True Suchness, not a single dust mote is established.
HAMUKHAYA also
means “loving assembly, harmoniously united.” This refers to cherishing all
living beings and living in harmony with them.
This is the Jeweled Ax Hand. If you cultivate it, you won’t undergo imprisonment and, in all places, at all times, you will avoid legal problems.
The
sentence also means that, within your own self nature you comfortably
accomplish all merit and virtue.
You
may wonder, “If I cultivate this dharma, can I break the law and avoid being
put in jail?”
No!
You must not break the law! If you cultivate this dharma and understand the
Buddhadharma, how could you break the law? Since you haven’t broken the law, of
course you won’t be arrested or imprisoned.
Sometimes,
however, innocent people are arrested and jailed. This is because they have
never cultivated the Jeweled Ax Hand and
Eye.
64.
Tất Ra Tăng A Mục Khê Da
Tất Ra Tăng. Hán dịch là
“thành tựu – ái hộ”. Nghĩa là thường đem hết sức mình để bảo hộ che chở cho tất
cả chúng sanh.
A Mục Khê
Da. Hán dịch là
“bất không, bất xả”.
Bất
không có nghĩa là hữu. Nhưng đây có nghĩa là diệu hữu.
Bất
xả có nghĩa là “Bất xả nhất pháp”. Không từ bỏ một việc gì, phải thông thạo tất
cả các pháp. Nên có câu kệ:
“Chân như lý
thượng bất lập nhất trần.
Phật sự môn
trung bất xả nhất pháp”.
Nghĩa
là:
“Trên phương
diện bản thể, lý tánh tức chân như, thì không cần lập một thứ gì nữa cả, dù chỉ
là hạt bụi.
Nhưng về mặt
sự tướng, có nghĩa là việc hành trì, tu đạo thì không được bỏ qua một pháp nào cả”.
A Mục Khê Da còn có
nghĩa nữa là “ái chúng, hòa hợp”. Nghĩa là thương yêu, hòa hợp, thường cứu giúp
tất cả chúng sanh.
Câu
chú này còn có nghĩa khác là trong tự tánh của mỗi chúng sanh đều có đủ tánh tự
tại và tánh công đức thường vẫn tròn đầy.
Đây
là Phủ-Việt Thủ Nhãn Ấn Pháp. Khi
hành trì ấn pháp này thành tựu, hành giả có thể tránh được nạn tù tội, bất kỳ
nơi đâu, bất kỳ mọi lúc, hành giả đều không bị vướng phải các chướng nạn về
quan quyền nữa.
Quý
vị sẽ hỏi: “Nếu tôi tu tập ấn pháp này, liệu tôi có thể phạm pháp mà vẫn không
bị bỏ tù hay sao?”
Không!
Là Phật tử, quý vị không được phạm pháp. Nếu quý vị đã thông hiểu Phật pháp và
phát tâm tu học Phật pháp rồi, thì làm gì có chuyện phạm pháp nữa? Còn nếu quý
vị làm chuyện phạm pháp, tất nhiên phải bị bắt và ở tù.
Tuy
nhiên, đôi khi có những người vô tội bị bắt ở tù. Đây là vì họ chưa bao giờ tu
tập Bảo phủ thủ nhãn ấn pháp này.
65. SVAHA
In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings, and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.
Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.” If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have accomplishment.
Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.” When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve, whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well, you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response. Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,” and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good friend, even a Good Knowing Advisor.
The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana-- when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and Bodhisattvas can know your virtuous practice.
“ELIMINATING DISASTERS” is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.
“AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is especially beneficial.
I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.-- Why doesn’t anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.
When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.
Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.
65. Ta-bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “Thành-tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tín. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “Viên-tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”. Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm Vô-trụ là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là Vô-trụ.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí huệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí huệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là 6 nghĩa của Ta bà ha.
1. Thành-tựu
2. Cát-tường
3. Viên-tịch
4. Tức-tai
5. Tăng-ích
6. Vô-trụ
Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
GREAT COMPASSION MANTRA
ILLUSTRATIONS VERSES
64. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA
SẤC-RI SIM-HA MÚC-KHAY-DA.
(SHRISINHAMUKHAYA)
Bổn-thân ngài Dược-Vương Bồ-tát.
Ngài Dược-Vương Bồ-tát mang thuốc trị các thứ bịnh.
Transforming and appearing as the Great Bodhisattva Medicine King,
He expels disease and eradicates plagues, saving millions.
Enabling beings to escape pestilence and leave suffering,
His sweet dew is sprinkled on the sprouts of those with feeling and awareness.
Hóa hiện Dược-vương đại Bồ-tát
Trừ Ôn diệt Dịch cứu-hằng-sa
Phổ lịnh Hữu tình Ly tật khổ
Cam lộ Biến sái Hàm thức nha.
Bổn-thân ngài Dược-Vương Bồ-tát, Xin thương xót hộ trì Chẳng-xót Chẳng-bỏ, hiện Phủ-việt-thủ-nhãn.
ÔN là bệnh truyền nhiễm.
DỊCH là bệnh lây cho mọi người.
CHO NÊN, NẾU QÚI VỊ MUỐN DIỆT TRỪ BỊNH ÔN DỊCH THÌ PHẢI TRÌ TỤNG.
65. TA BA HA
SÓA HA.
(SVAHA)
Bổn-thân ngài Viên-Mãn Bồ-tát.
Ngài Viên-Mãn Bồ-tát mặc áo đỏ lộ đôi bàn tay Mẫu-đa-la.
Through contemplative practice cultivation arises: homage to the Buddhas.
Blessings and wisdom make our Way-place adorned and magnificent.
If we can certify to deep profound prajna then certainly,
We can cross beyond all suffering, awakening to the eternal truth.
Quán hạnh Khởi tu Lễ Pháp Vương
Phước huệ Trang nghiêm Diệu đạo tràng
Nhược năng Chứng đắc Thâm Bát-nhã
Độ chư Khổ ách Ngộ chơn thường.
Bổn-thân ngài Viên-Mãn Bồ-tát, hiện Phủ-việt-thủ-nhãn khiến mau Thành-tựu.




Comments
Post a Comment