THE FORTY-TWO HAND AND EYE



14. The Hu Bottle Hand and Eye.

 

The Sutra says: “For wholesome and harmonious retinues,

     use the Hu Bottle Hand.”

 

The Mantra: Now la jin chr.

The True Words: Nan. Jye li san man yan. Sa wa he.

 

The verse:

Sweet dew from the Precious Jug nourishes living things.

As dried up wood is touched by spring, it buds again and again.

Elixir for a myriad ills, its great function is revealed.

Infinite living transformations of incomparable wonder.



14. Hồ-Bình Thủ Nhãn Ấn Pháp

 

Kinh nói rằng: “Nếu muốn tất cả người trong quyến-thuộc  

  được hòa thuận nhau, nên cầu  nơi Tay cầm

  cái Hồ-Bình.”

 

Thần-chú rằng: Na Ra Cẩn Trì [49]

Chân-ngôn rằng: Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.

 

Kệ tụng:

Hồ-bình cam lộ nhuận quần manh

Cô mộc phùng xuân mậu hựu xương

Vạn bệnh kham trừ hiển đại dụng

Sinh sinh hóa hóa diệu vô phương.

(Nước Cam-lộ trong Hồ-bình làm cho hữu-tình và vô-tình đều đồng viên Chủng trí

Như cây khô là “VÔ TÌNH” mà gặp mùa Xuân, còn đâm chồi lên cây tươi tốt

Thật là “Linh-Dược” có thể trừ được vạn bệnh cho chúng-sanh “HỮU” tình và “VÔ” tình

Làm cho sự sống thay đổi sinh sinh hóa hóa kỳ diệu không thể đo lường được.)

 

Ở Trung Hoa có trường hợp cây Chương [1] cầu giới và cây Bạch Quả [2] thụ giới. Vì sao chúng có thể thụ giới? Nếu nói chúng không có tình thức thì làm sao có thể biến thành hình người để đi thụ giới? Như thế chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao! Thật ra, chẳng mâu thuẫn chút nào, do vì quý vị không biết được cảnh giới này nên mới cho là mâu thuẫn. Nếu quý vị biết được thì sẽ hiểu đó là việc hết sức bình thường. Vì chúng sống cùng con người trên thế giới này đã lâu, tuổi tác đã già, trải nghiệm cũng nhiều, lâu ngày dài tháng sẽ hình thành nên tính giống như con người, cũng chính là có “nhân”.

Đã có nhân () thì sau đó sẽ có xúc cảm, đã có xúc cảm thì cũng sẽ muốn thụ giới. Trước khi chưa thụ giới, do không biết nên nó đã làm nhiều việc xấu, sau đó biết được những việc làm trước đây của mình là sai, thế là nó muốn thụ giới, thậm chí còn muốn xuất gia.

Bồ-tát Phổ Hiền giáo hóa hết thảy chúng sinh, không chỉ hóa độ chúng hữu tình mà tất cả hoa cỏ cây cối thuộc giống vô tình Ngài cũng đều độ hết, làm cho hữu tình và vô tình đều đồng viên Chủng trí [3], đồng thành Phật đạo, nên gọi là “Phổ Hiền”.

 

[1] Cây chương 樟樹: cây long não (camphor).

[2] Cây bạch quả 白果: cây mơ trắng (gingko).

[3] Chủng trí 種智: từ gọi tắt của Nhất thiết chủng trí, tức chỉ cho trí huệ của Phật.

 

PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới

Hòa Thượng Tuyên Hóa Giảng thuật

 

 

Thông thường, người ta hiểu chúng sanh là hữu tình chúng sanh. Thật sự, theo lý luận, chúng sanh có hai: vô tình chúng sanh và hữu tình chúng sanh. Vô tình là y báo, hữu tình là chánh báo. Chánh báo và y báo luôn luôn đi liền với nhau. Không bao giờ có chánh báo mà không có y báo và không bao giờ có y báo mà không có chánh báo.

Cho nên hữu tình và vô tình luôn luôn không rời nhau, dù rằng hai.

Những vật chỉ có địa, thủy, hỏa, phong để làm nhân duyên hòa hiệp tạo thành một vật hữu hình, hữu sắc, có màu, có mùi vị, cứng mềm, nóng lạnh, nhiều ít, gọi là sắc, hương, vị, xúc. Bốn vi đó lại bị tạo ra bởi bốn đại năng tạo. Nếu vật chỉ có bao nhiêu đó, cộng thêm một đại chung là “không đại’’ thì gọi đó là chúng sanh vô tình. Nghĩa là nó chưa có tình thức, dù nó ở trong thân của mình cũng vẫn là chúng sanh vô tình, chứ không phải ở ngoài như đất đá dễ nhận hơn.

 

Tóm lại, trong thân của mình chỉ có bốn năng tạo là địa, thủy, hỏa, phong và bốn sở tạo là sắc, hương, vị, xúc thì đó là chúng sanh, nhưng là vô tình chúng sanh.

Bây giờ nếu thêm căn đại và thức đại. Tánh chất của căn là có khả năng tiếp nhận bốn vi: sắc, hương, vị, xúc. Nếu một vật không có khả năng tiếp nhận của “căn đại’’ thì vật đó không có cảm giác. Nếu không có cảm giác thì không làm trung gian liên hệ để có sự hiểu biết. “Căn đại’’ là cái trung gian, mối liên hệ để phát sinh ra nhận biết, nhận biết đó là “thức đại”. “Thức đại” có khả năng biết để mà hiểu.

Như vậy, tất cả chúng sanh hữu tình và vô tình như chúng ta và núi sông, cây cỏ, đất đá, đều không nằm ngoài sự cấu tạo hòa hiệp của bảy đại chủng (năng tạo). Các thứ bị tạo, cái được làm ra là sở tạo.

Chánh báo đại khái nói là hữu tình chúng sanh. Y báo thiếu căn, thức, nên nó thiếu tình thức, hiểu biết, gọi là vô tình. Nói chung là chúng sanh.

 

TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Hòa thượng Thích Trí Tịnh

 


PHỔ NGUYỆN

 

Âm siêu dương thới, Pháp giới chúng-sanh,Tình dữ vô tình, Tề thành Phật-đạo.

 

Nam mô A-Di-Đà Phật

 

KINH NHẬT TỤNG

Nghi Thức Sám hối

 


Sweet dew from the Precious Jug nourishes living things.

As dried up wood is touched by spring, it buds again and again.

Elixir for a myriad ills, its great function is revealed.

Infinite living transformations of incomparable wonder.

Bảo-bình-cam-l Nhun qun manh

Cô mc Phùng xuân Mu hu xương

Vn bnh kham tr Hin đi dng

Sinh sinh Hóa hóa Diu vô phương.



14. Hồ-Bình Thủ Nhãn Ấn Pháp


Na Ra Cn Trì [49]

Na Ra Cn Trì [60]

Ta-bà ha [61]

Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.

UM! BÚT RUM!  HÙM!


Ngã kim ( pháp-danh) phát tâm trì Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn Ấn-Pháp, bất vị tự cầu, Nhơn-Thiên phước báu, Thanh-Văn, Duyên-Giác, nãi chí quyền-thừa chư vị Bồ Tát.

Duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc a-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.

Con nay ( pháp-danh) phát tâm trì tụng 42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp, chẳng vì tự cầu phước báo “Nhơn-Thiên”, cùng quả Thanh-Văn, Duyên-Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ-tát trong quyền-thừa.

Con chỉ y theo tối-thượng-thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng-sanh trong pháp-giới cùng một lúc đồng chứng đặng quả Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.




GREAT COMPASSION MANTRA 



49. NILAKANSTA

 

NILAKANSTA means “worthy love, foremost worthy,” the foremost leader of the worthies. It also means “good protection, good crown.” The cultivator is able to protect all living beings and be mindful of them and to deliver them to the very highest position of enlightenment.

This is the Jeweled Bottle Hand and Eye, also called the HU Bottle Hand and Eye. This bottle can get rid of all the world’s filth, relieving living beings of all their illnesses. The Bodhisattva who cultivates this Hand and Eye is fully able to protect and be mindful of all living beings. When you have cultivated the Hand and Eye to accomplishment, you will be able to help all beings and to prevent all hardships and disasters.


49. Na Ra Cẩn Trì

 

Na ra cẩn trì. Hán dịch là “Hiền ái” hoặc là “Hiền thủ” cũng dịch là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”. Nghĩa là người đứng đầu trong các bậc Thánh hiền, họ là thượng thủ, là bậc khó tìm cách bảo bọc, che chở cho chúng sanh, khéo độ thoát cho chúng sanh đến quả vị tối cao.

Đây là Bảo-Bình thủ nhãn ấn pháp. Cũng gọi là Hồ-Bình thủ nhãn ấn pháp. Bình nước này có thể tẩy trừ mọi uế trược ở thế gian, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi bệnh khổ. Bồ tát tu tập thành tựu ấn pháp này sẽ có năng lực hộ niệm cho toàn thể chúng sanh. Khi quý vị tu tập pháp ấn này thành tựu rồi, quý vị sẽ có khả năng cứu giúp mọi loài chúng sanh, giúp họ ngăn ngừa được mọi tai ương, chướng nạn. Nên còn được gọi là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”.



60. NILAKANTHI 


NILAKANTHI means "loving protection,” that is, to afford loving protection to all living beings. It carries the meaning of compassion and is the Jeweled Bottle Hand and Eye, also called the HU Bottle Hand and Eye. 


60. Na Ra Cẩn Trì


Na Ra Cẩn Trì. Hán dịch là “ái hộ” nghĩa là thường nỗ lực bảo bọc che chở tất cả chúng sanh. Câu chú này cũng mang ý nghĩa đại Từ Bi.

Đây là Tịnh bình thủ nhãn ấn pháp. Cũng gọi là Hồ Bình thủ nhãn ấn pháp.


61. SVAHA

 

In the Great Compassion Mantra, SVAHA is very important. It occurs fourteen times. It has six meanings, and it has these meanings wherever it occurs in any Mantra.

Its first meaning is “ACCOMPLISHMENT.” If you recite the Mantra, you can accomplish everything you want to accomplish and gain everything you seek. If you don’t have this response, it’s only because you haven’t a sincere heart. If you have a sincere heart and have true faith, you will certainly succeed. But if you have even the slightest bit of disbelief in the mantra, a combination of faith and disbelief, you won’t have accomplishment.

 

Secondly, SVAHA means “AUSPICIOUS.” When you recite the Mantra, all inauspicious affairs become auspicious. But you must have true faith. The Bodhisattvas know whether or not have faith. They know whether you really believe, whether you half believe and half disbelieve, whether you mostly believe and disbelieve just a bit, or whether you mostly disbelieve and only believe a little bit. So if you want accomplishment and want things to be auspicious, or if there is something you want, you must have true faith. For example, if your father is sick and you want him to get well, you may recite the Mantra. If you really believe, there will be a response. Perhaps you may think, “I haven’t seen my best friend for a long time and I’ d like to see him again.” If you recite the Mantra with faith, very quickly you’ll see him. Or you may think, “I have no friends. I’ d like a good friend,” and if you recite the Mantra with faith, and keep it up, you will get a good friend, even a Good Knowing Advisor.

 

The third meaning of SVAHA is “COMPLETELY STILL.” When Bhikshus go off to rebirth, to Nirvana-- when they die-- it is called becoming “completely still.” This is not to say that you recite the Mantra, SVAHA, SVAHA, SVAHA,” then die and become completely still yourself, however; you don’t recite the mantra in order to die. What would be the use of that? No one wants to die. complete stillness means that your merit is complete and the nature of your virtue is still to the extent that ordinary people cannot fathom it and only the Buddhas and Bodhisattvas can know your virtuous practice.

 

 “ELIMINATING DISASTERS” is the fourth meaning All calamities are put to rest and eliminated.

 

 “AUGMENTING BENEFIT” is the fifth meaning. Recitation of SVAHA is especially beneficial.

 

I don’t believe anyone knows what the sixth meaning of SVAHA is. If any of you do, you can tell me.--  Why doesn’t  anyone know? Because I’ve not explained it before. It’s “NON-DWELLING.” In The Vajra Sutra it says, “one should produce that thought which does not dwell anywhere.” Non-dwelling means non-attachment. The heart dwells nowhere and is not attached to anything. Non-attachment means that everything’s all right. It’s a kind of non-activity dharma-- nothing done, yet nothing undone. Non-dwelling is non-activity and non-activity is non-dwelling.


When you give rise to a thought, it should not abide anywhere: that is the sixth meaning of SVAHA. You don’t dwell in affliction, ignorance, greed, hatred, stupidity, pride, or doubt. If you have such thoughts, you must hurry and conquer them. Bring them under control so that you dwell nowhere. Conquer them with the Jeweled Sword Hand. You say that your heart is full of greed? I’ll slay it. Full of hate-demons? I’ll cut them down. Stupidity-demons? I’ll chop them into mincemeat! I’ll do it all with my Vajra King Jeweled Sword, my Wisdom Sword. If you want to conquer the heavenly demons and externalists, you must first conquer your own false thinking. When you’ve conquered that, the demons and externalists  will also have been conquered, and even if they come to bother you, they’ll have no way to harm you.


 Wherever SVAHA occurs, it has these six meanings.


61. Ta-bà ha



Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.

Ta bà ha. Hán dịch có 6 nghĩa. Bấkỳ chữ này xut hi bài chú nào cũng có đ sáu nghĩa này.

Nghĩa thứ nht là “Thành-tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tt c s cu, s nguyn ca hành gi đu được thành tu. Nếu quý v chưa có được s cng khi hành trì, là do vì tâm chưa đt đến s chí thành. Nếu quý v có tâm chí thành và có nim tin kiên c, thì chc chn s được thành tu. Nhưng ch cn móng khi mt chút tâm nim không tin vào chú này, thì không bao gi được thành tu.

Nghĩa thứ hai là “Cát-tường”. Khi hành giả nim câu chú này thì mọi s không tt lành, đu tr thành tt lành như ý. Nhưng quý v phi có lòng thành tín. Nếu quý v có lòng thành tín hoc na tin na ng khi trì chú này thì chư B tát đu biết rõ. Vì thế nếu quý v mun mi vic đu được đến ch thành tu thì trước hết phải có nim tin chc tht. Ví như khi cha ca quý v có bnh, mun cha mình được khi bnh thì quý v phi hết sc thành tâm và chánh tín. Trì tng chú này mi có cng.

Hoặc khi quý v nghĩ rng: “T lâu mình chưa được gp người bn thân. Nay rt muốn gặp anh ta”. Quý v nim chú này mt cách chí thành, lin gp bn ngay. Hoc quý v nghĩ: “Ta chng có người bn nào c, mun có người bn tt”. Quý v trì chú này mt cách thành tâm và liên tc, lin có được bn lành, ngay c gp được thin tri thc.

Nghĩa thứ ba ca Ta bà ha là “Viên-tịch”.

Khi các vị Tỳ kheo x b báo thân hoc nhp Niết bàn thì được gi là “viên tch”. Nhưng  đây, ch “viên tch” không có nghĩa là chết. Chng phi nim câu chú Ta bà ha là đ cu s viên tch. Thế thì công dng ca câu chú này là gì?

“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bt viên”. Là công đc ca hành gi hoàn toàn viên mãn; “đc vô bt tch” là đc hnh ca hành gi đt đến mc cao tt cc đim. Ch có chư Pht và B tát mi biết được công hnh rt ráo tròn đy ch hàng phàm phu không suy lường được.

Nghĩa thứ tư là “Tức-tai”, nghĩa là mọi tai nn đu được tiêu tr.

Nghĩa thứ năm là “Tăng-ích”, là sự tăng trưởng li lc ca hành gi. Khi nim câu Ta bà ha thì công hnh đu được tăng trưởng, hành gi s đt được ch llạc an vui.

Nghĩa thứ sáu ca câu này, tôi thiết nghĩ trong quý v ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa tng nói bao gi.

Ta bà ha có nghĩa là “Vô-trụ”. Nghĩa “Vô-trụ” này nằm trong ý nghĩa ca câu “ưng vô s tr nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.

“Vô-trụ” nghĩa là không chấp trước, không vướng mc hay bám chp mt th gì c.

Tâm Vô-trụ là không có một nim chp trước vào vic gì c. Không chp trước nghĩa là tâm tùy thun vi mi vic, thy mi vic đu là tt đp. Đây chính là trường hp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khi nim tác ý nhưng điu gì cũng được thành tu). Vô-trụ chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là Vô-trụ.

Khi quý vị va móng khi lên mt nim tưởng, đng nên vướng mc vào mt th gì c, đó là nghĩa th sáu ca Ta bà ha. Quý v đng nên tr vào các nim tham, sân, si, mn, nghi. Nếu quý v có tt c các tâm nim trên thì phi nhanh chóng hàng phc chúng, chuyển hóa chúng đ tâm mình không còn tr  mt nim nào c. Hàng phc, chuyn hóa được nhng tâm nim chúng sinh y gi là Vô-trụ. Dùng cái gì để chinh phc chúng? Dùng Bo kiến pháp này đ hàng phc. Quý v nói rng tâm quý v b đy dy nim tham chế ngự. Tôi s dùng Bo kiếm này đ ct sch. Nếu tâm quý v có đy ma oán, tôi cũng s dùng Bo kiếm này đui sch. Nếu tâm quý v b ma si mê chiếm đot, tôi s dùng kiếm trí hu này cht đt chúng tng mnh.

Tôi sẽ cht đt tt c các loài ma y bng Bo kiếm Kim cang vương này, tc là dùng kiếm Trí hu đ hàng phc. Nếu quý v mun hàng phc thiên ma ngoi đo thì trước hết quý v phi chuyn hóa được mi vng tưởng ca mình. Khi quý v chuyn hóa được vng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoi đo cũng được hàng phc luôn, cho dù chúng có mun đến đ quy phá, chúng cũng chng tìm được cách nào đ hãm hi được c.


Trên đây là 6 nghĩa củTa bà ha


1. Thành-tựu

2. Cát-tường

3. Viên-tịch

4. Tức-tai

5. Tăng-ích

6. Vô-trụ


Bất lun câu chú nào dưới đây có ch Ta bà ha đu mang đy đ sáu nghĩa trên.




GREAT COMPASSION MANTRA 

ILLUSTRATIONS VERSES



49. NA RA CẨN TRÌ

NI-LA KANH SÍT-TA.

(NILAKANSTA)


Ngài Long-Thọ Bồ-tát. 

Đây là ngài Long-Thọ Bồ-tát.


Contemplating Sounds shows up as Venerable Dragon Tree,

Who, gathering those who are ready, helps them leave the fiery pit.

Finding our way to the source is realizing proper enlightenment.

The Sutra of Dharma Realm is unveiled from within a mote of dust. 

Quán Âm Thị Hin Long-th-tôn

Phổ nhiếp Qun cơ Ly ha khanh

Phản bn Hoàn nguyên Thành chánh giác

Vi-trần-phu-xut Pháp Gii kinh.


Ngài Long-Thọ Bồ-tát, Đấng hiền ái, hiền thủ, hiện Hồ-

bình-thủ-nhãn.



60. NA RA CẨN TRÌ

NI-LA-KANH-THI.

(NILAKANTHI)


Ngài Hải-Huệ Bồ-tát.

Đây là Bản-thân ngài Hải-Huệ Bồ-tát tay cầm Gươm vàng.


With manifestation as many as a sea of dust motes, he appears in infinite bodies.

He diligently plows the field of the six perfections and myriad practices.

Turning from the Small and embracing the Great is the Bodhi fruit.

Saving ourselves and teaching others is the Prajna mind.

Vi trần Tướng hi Vô lượng thân

Lục đ Vn hnh Cn canh vân

Hồi tiu Hướng đi B-qu

Tự đ Hóa tha Bát-nhã-tâm.


Ngài Hải-Huệ Bồ-tát, Đấng thành tựu sự diệu hiền đáng mến, 

hiện Hồ-bình-thủ-nhãn.


 

61. TA BÀ HA

SÓA HA.

(SVAHA)


Ngài Chiên- Đà-La Bồ-tát.

Đây là ngài Chiên- Đà-La Bồ-tát với chiếc nón quảy ngang vai. 

 

Planting causes and reaping effects, one nurtures good roots.

Ending birth and casting off death must be done by ourselves.

Work with courageous vigor to perfect the paramitas.

The practice of Maha Enlightened Way is remarkably deep.

Chủng nhân Kết qu Thc thin căn

Liễu sanh Thoát t Yếu t cn

Dũng mãnh Tinh tấn Ba-la-mt

Ma ha Giác đạo Diu hành thâm.


Ngài Chiên- Đà-La Bồ-tát, Đấng thành tựu pháp Vô-trụ, hiện Hồ-bình-thủ-nhãn.


Comments

Popular posts from this blog